CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA, CÁCH MẠNG XÃ THIỆU HOÁ

Xã Thiệu Hóa được thành lập trên cơ sở sắp xếp nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Thiệu Phúc, Thiệu Công, Thiệu Nguyên và một phần diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Thiệu Hóa, xã Thiệu Long. Sau sáp nhập, xã Thiệu Hóa hiện có 9 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 2 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và 7 di tích cấp tỉnh. Mỗi di tích là một "địa chỉ đỏ", lưu giữ những dấu ấn về lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của các thế hệ cha ông, đồng thời phản ánh chiều sâu văn hóa của vùng đất và người Thiệu Hóa. Đây là nguồn tài sản văn hóa vô giá, góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng tự hào quê hương, tạo nền tảng quan trọng để địa phương phát triển văn hóa gắn với bảo tồn di sản và phát huy giá trị lịch sử trong giai đoạn mới.

 

DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐỀN THỜ, MỘ TỂ TƯỚNG NGUYỄN QUÁN NHO

 (Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia)

Vùng đất Vạn Hà xưa, nay thuộc xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, từ lâu nổi tiếng là miền quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và khoa bảng. Trong thời Lê Trung Hưng, nơi đây đã sản sinh nhiều bậc hiền tài làm rạng danh quê hương và đất nước, tiêu biểu là Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh, Tiến sĩ Trịnh Cao Đệ và Tiến sĩ Nguyễn Quán Nho. Trong số đó, Nguyễn Quán Nho là vị đại thần có sự nghiệp hiển hách, từng giữ chức Tham tụng dưới phủ chúa Trịnh, quyền hành tương đương Tể tướng, được Nhân dân kính trọng và lưu truyền với danh xưng "Tể tướng Vạn Hà".

Picture 1

Theo các tư liệu lịch sử, Nguyễn Quán Nho sinh năm 1637 tại làng Vạn Hà, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, xứ Thanh (nay thuộc xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), mất năm 1708, hưởng thọ 71 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, cha mẹ sống bằng nghề buôn bán nhỏ ở chợ Vạn Hà. Mặc dù cuộc sống nhiều thiếu thốn, Nguyễn Quán Nho từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, hiếu học và có ý chí vượt khó.

Tương truyền, vì gia cảnh quá nghèo nên cha mẹ không có điều kiện cho con theo học. Cảm phục khát vọng học tập của cậu bé Quán Nho, một thầy đồ ở làng Phủ Lý (nay thuộc xã Thiệu Trung) đã nhận ông làm học trò mà không lấy học phí. Hằng ngày, cậu bé phải vượt sông Chu sang nhà thầy học chữ.

Trong dân gian Vạn Hà còn lưu truyền câu chuyện cảm động về tuổi thơ của ông. Có những ngày không có cơm ăn, Nguyễn Quán Nho phải sang mượn nồi của người hàng xóm để vét những hạt cơm còn dính dưới đáy nồi lót dạ. Cảm thương hoàn cảnh hiếu học ấy, bà lão hàng xóm thường để dành cho cậu ít cơm cháy. Chính từ câu chuyện này đã hình thành giai thoại "Cu Cháy đỗ Tiến sĩ", trở thành biểu tượng đẹp về ý chí vượt khó và tinh thần hiếu học của người xứ Thanh.

Sau nhiều năm dùi mài kinh sử, Nguyễn Quán Nho đỗ Hương cống tại kỳ thi Hương năm Bính Ngọ (1666). Năm sau, Đinh Mùi (1667), dưới triều vua Lê Huyền Tông, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đứng đầu ba vị Tiến sĩ của khoa thi năm ấy.

Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Quán Nho được triều đình và phủ chúa trọng dụng. Ông lần lượt giữ các chức Tả Hiến Tư giảng, Tri Lục phiên, trực tiếp tham gia điều hành công việc của sáu bộ trong triều đình và đảm nhiệm việc giảng dạy các vương tử phủ chúa Trịnh.

Đến thời chúa Trịnh Căn, ông được giao giữ chức Tham tụng, chức quan đứng đầu các quan văn trong phủ chúa, quyền hành tương đương Tể tướng của triều đình nhà Lê. Với tài năng, đức độ và những đóng góp to lớn cho triều chính, Nhân dân quen gọi ông là Tể tướng Nguyễn Quán Nho hay Tể tướng Vạn Hà.

Suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Quán Nho nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực, hết lòng phò vua, giúp chúa và chăm lo đời sống Nhân dân. Ông đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp, đắp đê phòng chống lụt bão, miễn giảm thuế khóa, khuyến khích sản xuất và ổn định đời sống dân sinh. Sau khi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn chấm dứt, đời sống Nhân dân vùng Bắc Hà ngày càng yên ổn, mùa màng tốt tươi, kinh tế phát triển. Uy tín và đức độ của ông được người đương thời hết sức kính trọng.

Đền thờ và Lăng mộ Tể tướng Nguyễn Quán Nho

Để tưởng nhớ công lao của vị danh thần triều Lê Trung Hưng, con cháu dòng họ cùng Nhân dân địa phương đã lập đền thờ và xây dựng khu lăng mộ tại thôn Dương Hòa, xã Thiệu Hóa.

Không đồ sộ hay bề thế về quy mô kiến trúc, Đền thờ và Lăng mộ Tể tướng Nguyễn Quán Nho mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc, đậm dấu ấn của một công trình thờ tự truyền thống. Những đường nét kiến trúc mộc mạc, các họa tiết trang trí trên mái, đầu đao uốn cong cùng đôi nghê chầu trước tiền đường tạo nên vẻ uy nghi, linh thiêng, thể hiện sự tôn kính của hậu thế đối với vị đại thần tài đức.

Picture 3

Năm 1993, Đền thờ và Lăng mộ Tể tướng Nguyễn Quán Nho được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Di tích gồm khu đền thờ có diện tích 939 m² và khu lăng mộ rộng 60 m². Sau khi được xếp hạng, với sự quan tâm của Nhà nước cùng sự đóng góp của con cháu trong dòng họ, nhiều hạng mục đã được tu bổ, tôn tạo. Ngôi tiền đường được phục dựng trên nền cũ theo kiến trúc truyền thống ba gian, khung gỗ, tường xây gạch, nền lát gạch bát và hệ thống tường bao bảo vệ, góp phần giữ gìn diện mạo vốn có của di tích.

Picture 4

Hiện nay, đền còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như long ngai, bài vị, đại tự, câu đối, sắc phong cùng nhiều đồ thờ có giá trị lịch sử. Đặc biệt, di tích vẫn bảo tồn được bức tranh truyền thần của Tể tướng Nguyễn Quán Nho, tương truyền do một họa sĩ Trung Quốc vẽ trong một lần ông đi sứ.

Phần lăng mộ của Tể tướng Nguyễn Quán Nho hiện nằm cách đền thờ khoảng 1,5 km. Năm 2018, khu lăng mộ được Nhà nước đầu tư tu bổ, tôn tạo, góp phần bảo tồn lâu dài di tích và thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với một người con ưu tú của quê hương Thiệu Hóa, đồng thời là một danh nhân có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc.

 

ĐỀN THỜ ĐINH LỄ - DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA

 

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, Đinh Lễ là một trong những vị tướng kiệt xuất của nghĩa quân Lam Sơn. Với tài thao lược, lòng quả cảm và tinh thần tận trung vì đất nước, ông đã lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đánh đuổi quân Minh xâm lược, giành lại nền độc lập cho dân tộc.

Theo các thư tịch lịch sử, Đinh Lễ xuất thân trong một gia đình có truyền thống trung nghĩa. Tổ tiên là Đinh Thỉnh từng giữ chức Thái úy và được truy tặng tước Mục Huệ Đại Vương. Ngay từ những ngày đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Đinh Lễ đã theo phò Bình Định vương Lê Lợi, trở thành một trong những tướng lĩnh nòng cốt của nghĩa quân.

Picture 1

Năm Mậu Tuất (1418), theo lệnh của Lê Lợi, ông sang Ai Lao để liên hệ, vận động sự giúp đỡ về quân lương, góp phần củng cố lực lượng cho cuộc khởi nghĩa. Năm Kỷ Hợi (1419), ông chỉ huy quân đánh thắng quân Minh tại Lạc Thủy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tháng 7 năm Canh Tý (1420), ông tiếp tục lập công lớn trong trận phục kích ở Bồ Mộng, góp phần làm suy yếu lực lượng quân Minh và được Bình Định vương phong giữ chức Tư không.

Đến năm Ất Tỵ (1425), trong chiến dịch giải phóng Nghệ An, Đinh Lễ được giao chỉ huy tiến đánh thành Diễn Châu. Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân giành thắng lợi, mở rộng vùng giải phóng, tạo tiền đề quan trọng để tiến quân ra Bắc.

Tên tuổi của Đinh Lễ gắn liền với chiến thắng lịch sử Tốt Động – Chúc Động năm Bính Ngọ (1426), một trong những trận quyết chiến chiến lược lớn nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh Lam Sơn, trong đó có Đinh Lễ, nghĩa quân đã đánh tan đạo quân chủ lực của Vương Thông, tiêu diệt và bắt sống hàng vạn quân Minh, làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo bước ngoặt quyết định đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn. Sau chiến công này, ông được phong chức Tư đồ Đại tướng quân.

Đầu năm Đinh Mùi (1427), trong cuộc vây hãm thành Đông Quan, quân Minh nhiều lần tổ chức phản kích nhằm phá vòng vây của nghĩa quân. Trong một trận chiến tại khu vực My Động (nay thuộc Hà Nội), Đinh Lễ cùng danh tướng Nguyễn Xí trực tiếp chỉ huy xung trận. Do voi chiến bị sa lầy, hai ông bị quân Minh bắt. Đinh Lễ bị sát hại trong ngục, còn Nguyễn Xí sau đó tìm cách trốn thoát trở về với nghĩa quân.

Sự hy sinh của Đinh Lễ là tổn thất lớn đối với nghĩa quân Lam Sơn. Bình Định vương Lê Lợi vô cùng thương tiếc, truy phong ông nhiều chức tước cao quý. Đến đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 15 (1484), ông tiếp tục được gia phong Thái sư Bân Quốc công, về sau được tôn phong Hiển Khánh Vương, ghi nhận công lao to lớn đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Để tưởng nhớ công lao của danh tướng Đinh Lễ, Nhân dân đã lập đền thờ tại vùng đất Vạn Hà, nay thuộc xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền không chỉ là nơi thờ phụng vị anh hùng dân tộc mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa, Đền thờ Đinh Lễ đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia năm 1994 . Đây là niềm tự hào của quê hương Thiệu Hóa, đồng thời là một trong những di tích tiêu biểu góp phần làm phong phú hệ thống di sản lịch sử gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa.

 

ĐỀN THỜ TIẾN SĨ NGUYỄN QUANG MINH - DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CẤP TỈNH

Theo tài liệu văn bia, gia phả, sắc phong và truyền ngôn của các vị cao niên trong dòng họ Nguyễn Quang (xã Thiệu Hóa), Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh sinh năm 1584 trong gia đình có truyền thống làm quan ở làng Trí Cẩn (nay là thôn Trí Cẩn, xã Thiệu Hóa). Cha ông là quan võ, có công lớn trong sự nghiệp “phù Lê, diệt Mạc”.

Tuy vậy, ông không theo con đường nhà binh giống cha, mà lựa chọn dùi mài kinh sử theo văn nghiệp. Trải qua bao gian truân trong học hành thi cử, đến năm 1628, khoa thi Mậu Thìn đời vua Lê Thần Tông, ông mới đỗ Đệ Tam nhất đồng tiến sĩ.

Picture 3

Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Quang Minh được triều đình trọng dụng, giữ chức Lại bộ Tả Thị lang. Ông từng được cử làm sứ thần sang nhà Minh thực hiện nhiệm vụ bang giao và hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao. Theo bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ông được triều đình phong tước Mỹ Lộc hầu.

Trong suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Quang Minh nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực, tận tụy vì nước, thương dân, được triều đình và Nhân dân đương thời kính trọng. Sau khi qua đời, ngoài việc được Nhân dân quê hương tôn thờ, ông còn được suy tôn là phúc thần tại làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội). Tại quê hương Trí Cẩn, phần mộ của Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh hiện vẫn còn ở khu Cồn Lưu (hay còn gọi là Cồn Lêu). Trên bia mộ còn khắc dòng chữ “Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Tư phủ bộ tiên sinh mộ chí”, là tư liệu quý khẳng định thân thế và học vị của ông.

Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh tọa lạc tại thôn Trí Cẩn, xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi con cháu dòng họ Nguyễn Quang và Nhân dân địa phương nhiều đời gìn giữ, hương khói để tưởng nhớ vị Tiến sĩ triều Lê Trung Hưng đã có nhiều công lao đối với đất nước.

Theo các tư liệu lịch sử, ngôi nhà thờ nguyên thủy được dựng sau khi Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh qua đời. Tuy nhiên, trải qua những biến động của lịch sử, công trình cũ không còn tồn tại. Ngôi nhà thờ hiện nay được con cháu dòng họ phục dựng vào năm Khải Định thứ ba (1918). Trên câu thượng lương của công trình hiện vẫn còn ghi rõ niên đại này, là căn cứ xác định thời điểm phục dựng nhà thờ.

Picture 4

Mặc dù có quy mô khiêm tốn, ngôi nhà thờ vẫn bảo lưu được nhiều hiện vật quý gắn với thân thế và sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh. Hiện nay, di tích còn lưu giữ bức đại tự mang ba chữ “Nguyễn từ đường”, một đạo sắc phong của vua Khải Định năm thứ chín (1924) suy tôn ông là “vị tôn thần giúp nước cứu dân, có nhiều linh ứng”, cùng nhiều hiện vật có giá trị như ngai thờ, khám thờ, bài vị, mâm bồng, ống đựng sắc phong, bộ mũ áo cổ, kiếm thờ và nhiều đồ tế tự truyền thống khác.

Picture 1

Hiện nay, di tích vẫn do con cháu dòng họ trực tiếp quản lý, chăm sóc và hương khói. Mặc dù một số hạng mục đã xuống cấp theo thời gian, ngôi đền vẫn giữ được giá trị nguyên gốc của kiến trúc truyền thống và là nơi lưu giữ những tư liệu quý về một danh nhân khoa bảng của quê hương.

Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh không chỉ là nơi tưởng niệm một vị quan thanh liêm, tài đức của triều Lê Trung Hưng mà còn là biểu tượng cho truyền thống hiếu học, trọng đạo và trọng dụng nhân tài của vùng đất Vạn Hà. Cùng với đền thờ Tiến sĩ Trịnh Cao Đệ và đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Quán Nho, di tích góp phần khẳng định bề dày truyền thống khoa bảng của quê hương Thiệu Hóa, đồng thời là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, hiếu học và niềm tự hào về lịch sử quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

 

ĐỀN THỜ BÌNH VƯƠNG DƯƠNG TAM KHA

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP TỈNH

 

Trong hệ thống di sản lịch sử - văn hóa trên địa bàn xã Thiệu Hóa, đền thờ Bình Vương Dương Tam Kha tại làng Thành Đạt (xưa thuộc xã Thiệu Long, nay là xã Thiệu Hóa) là một di tích có giá trị đặc biệt, gắn với một nhân vật lịch sử tiêu biểu của thế kỷ X - giai đoạn mở đầu nền độc lập, tự chủ của dân tộc sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.

Đây không chỉ là nơi tưởng niệm Bình Vương Dương Tam Kha mà còn là địa chỉ lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống của dòng họ Dương và vùng đất Thiệu Hóa.

Picture 5

Theo các công trình nghiên cứu lịch sử, Dương Tam Kha là con trai của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, quê ở làng Dương Xá (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ông trưởng thành trong bối cảnh đất nước đang từng bước giành lại quyền tự chủ và sớm tham gia sự nghiệp của cha.

Sau khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại năm 937, Dương Tam Kha đã cùng Ngô Quyền tập hợp lực lượng tiêu diệt Kiều Công Tiễn, chuẩn bị chống cuộc xâm lược của quân Nam Hán.

Trong trận Bạch Đằng năm 938, ông là một trong những tướng lĩnh quan trọng dưới quyền Ngô Quyền. Theo các nguồn sử liệu và thần tích được dẫn trong hồ sơ khoa học di tích, Dương Tam Kha cùng các danh tướng đã chỉ huy quân mai phục hai bên bờ sông, phối hợp với đại quân của Ngô Quyền tạo nên chiến thắng vang dội, chấm dứt hoàn toàn âm mưu xâm lược của quân Nam Hán và mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc.

Sau khi Ngô Quyền lên ngôi năm 939, Dương Tam Kha tiếp tục tham gia giúp việc triều chính. Khi Ngô Quyền qua đời năm 944, ông lên nắm quyền và xưng là Bình Vương, trị vì đất nước trong khoảng thời gian từ năm 945 đến năm 950.

Đền thờ Bình Vương Dương Tam Kha được nhân dân và dòng họ Dương xây dựng trên nền di tích cũ để tưởng nhớ công lao của ông.

Picture 6

Đền thờ tọa lạc tại làng Thành Đạt, một vùng đất nằm bên dòng sông Mạo Khê, có địa thế tương đối biệt lập, ba mặt được bao bọc bởi đồng ruộng và sông nước.

Hiện nay, công trình gồm sân đền, tiền đường và hậu cung theo bố cục truyền thống kiểu chữ Đinh. Mặc dù nhiều hạng mục đã được phục dựng, di tích vẫn lưu giữ được một số dấu tích của ngôi đền cổ như đá kê chân cột, đá bó hiên và một phần bia đá cũ.

Trong hậu cung đặt bài vị thờ Bình Vương Dương Tam Kha cùng các đồ thờ truyền thống; gian tiền đường thờ các vị tiên tổ của dòng họ Dương. Đây là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng, tưởng niệm và giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu.

Hằng năm, vào Rằm tháng Giêng, con cháu dòng họ Dương trong tỉnh Thanh Hóa và nhiều địa phương khác tổ chức lễ giỗ Bình Vương Dương Tam Kha tại đền. Ngoài ra, vào các dịp lễ, Tết, ngày mồng Một và ngày Rằm hằng tháng, nhân dân địa phương vẫn duy trì việc dâng hương tưởng niệm.

 

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP TỈNH NHÀ THỜ TIẾN SĨ NGUYỄN LỆNH TÂN

 

Di tích nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân là nơi lưu giữ truyền thống hiếu học, khoa bảng của dòng họ Nguyễn trên đất Trinh Sơn xưa, gắn với cuộc đời và sự nghiệp của vị tiến sĩ tài năng, chính trực, có nhiều đóng góp cho triều đình và đất nước thế kỷ XVIII.

Di tích nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân trước đây là nhà từ đường của dòng họ Nguyễn, tiền thân của dòng họ Nguyễn Lệnh và Nguyễn Dụng ngày nay. Theo phả tộc của họ, cụ thủy tổ là người họ Nguyễn đến đất này lập nghiệp vào đầu thế kỷ thứ 16, khi đó tên làng là ấp Trinh Sơn. Đến đời thứ 6, Cụ Nguyễn Cơ (1699-1747) có đức có tài được triểu đình mời ra làm quan giúp nước, thăng đến chức Thừa chính xứ Tuyên Quang (Tòng tam phấm), Cụ có công lớn đóng góp cho triều đình đất nước, được vua ban tặng hàm "Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu", tước Triệu Trạch hầu, và tên thụy là Hoằng Nghị. Cụ là người khởi đầu đem sự vinh quang, vẻ vang cho gia đình, dòng họ; có công sinh thành dưỡng dục, hướng cho con cái học hành, thành người có tài đức phụng sự đất nước, giúp dân. Kỳ vọng của Cụ đã thành hiện thực là các con thành danh, đã làm cho gia đình dòng họ trở thành nối tiếng trong khu vực (Ba đời kế tiếp, bốn vị làm quan), xứng là "Danh gia vọng tộc" kéo dài hơn một thế kỷ.

Anh-tin-bai

Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân đời thứ 7 (1726-1777), con Cụ Cơ là người kế tiếp viết nên trang phả tộc sáng ngời. Sinh thời được cha mẹ nuôi ăn học, vốn thông minh sáng dạ lại chăm đèn sách bút nghiên, nên đã thông lầu kinh sử khi tuổi còn niên thiếu. Năm 1747 dự định thi Hương nhưng không may cha mất vào đầu năm, phải chịu cư tang cha nên đành gác lại việc thi. Năm 1750 thi Hương lần đầu chỉ đỗ ba vòng đạt giái Sinh đồ loại ưu, năm 1753 thi đỗ Hương cống. Mùa xuân 1754 và các khoa kế tiếp thi Hội nhưng không trúng cách để dự thi đình. Gặp kỳ thi sĩ vọng Cụ thi đỗ và được bổ chức Huấn đạo, chức quan coi việc học ở cấp huyện. Năm 1763 thi đỗ Tiến sĩ. Cuộc đời làm quan của Cụ đã được nhiều sách ghi chép lưu tích, nhất là cuốn quốc sử "Đại Việt sử ký tục Biên", đã thể hiện Cụ từng được bổ cử đảm nhiệm các công việc và giữ các chức: Đô cấp sự trung Hiến sát ty Hải Dương (1764-8/1767); làm Tham mưu việc quân cho Đoan quận công Bùi Thế Đạt (quan Trần thủ Nghệ An) khi dẹp loạn Lê Duy Mật (giai đoạn từ 8/1767-1769), và đã từng được giao chỉ huy một cánh quân tiến công đồn. Sau dẹp loạn về làm ở Viện Hàn lâm (1770- 1774) đã thăng đến chức Thừa chỉ. Đang ở chức trọng quyền cao, Cụ lại xung phong đi dẹp loạn đàng trong và được Chúa ưng thuận cử làm Phó tướng cho Tham tụng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (11/1774-12/1775); khi chiếm được Quảng Ngãi Cụ đã cùng Nguyễn Đình Đống xin lưu giữ ở Châu Ố, Bình Sơn Quảng Ngãi phòng quân Tây Sơn tráo trở, nhưng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc không nghe. Rút quân về Phú Xuân (12/1775) Cụ được Chúa cử giữ chức Hiệp đồng, Phó Đốc thị đạo Thuận Hóa, Chúa cũng sai Cụ "làm sứ giả đi dụ Nguyễn Nhạc" và giao cho Phạm Ngô Cầu định liệu, Phạm Ngô Cầu đã ngăn Cụ, vì chưa tin Nguyễn Nhạc. Tháng 12/1776 được điều về triều làm ở Nội thần, và không lâu sau đó Chúa đã cử làm khâm sai đi Phú Xuân để điểm duyệt quân số.

Anh-tin-bai

 

Xong việc trở về triều, Chúa cử giữ chức Tham chính Sơn Tây (04-11/1777), và mất ngày 21/10 (âl). Được vua phong chức Hữu thị lang Công bộ (tòng tam phẩm), tặng hàm "Gia hành đại phu", và ban tên thụy Vỹ Đạt. Lúc ở đạo Thuận Hóa Cụ từng nói "Giặc Tây Sơn nên kịp đánh, bị trấn thủ Phạm Ngô Cầu ngăn cản", Cụ đã khải về triều đình với câu nói nối tiếng, vô cùng khảng khái rằng: "Cầu hèn nhát làm lỡ việc, Thuận Quảng tất mất ở tay người ấy. Xin chém đầu đi mà dùng tướng khác, may ra có thế giữ được Thuận Quảng".

Rõ là người túc trí đa mưu, bản lĩnh, chính trực, văn võ song toàn. Nhìn lại quảng đời làm quan của Cụ chúng ta thấy Cụ là người vừa tài văn giỏi võ, làm quan thanh liêm, chính trực, nhân cách, đức cao, tâm sáng; không cầu an, không ngại khó, có tư tưởng tiên phong xả thân vì việc nghĩa, có năng lực chính trị, quân sự, ngoại giao đã được Chúa và triều đình tin tưởng giao nhiều việc trọng. Chỉ làm quan 14 năm (1764-1777) mà thăng từ bát phẩm lên hàng tam phẩm (5 bậc), chứng tỏ Cụ có nhiều công trạng, cống hiến hết mình cho triều đình đất nước. Thật tiếc là Cụ ra đi khi mới 52 tuổi, độ tuổi tri thiên mệnh, tài năng đủ chín, kinh nghiệm tích dầy; nếu không Cụ còn có thể cống hiến nhiều hơn cho đất nước, và bản thân cũng có thể đứng vào hàng tam công vinh hiển. Sách "Danh sĩ Thanh Hóa với việc học và khoa cử thời xưa" có viết Cụ giữ chức "Đông Các đại học sĩ", nhưng trong phả tộc và sách "Đại Việt sử ký tục biên" không nói Cụ giữ chức này. Nhà thờ Cụ được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh năm 2006 để vinh danh Cụ, đó cũng là niềm tự hào của con cháu trong họ và làng nước.

Đến với Di tích nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân chúng ta còn được biết: Cụ có em trai tên tự Nguyễn Dụng Hanh (1736-1789) là người có văn hóa hiểu biết xã hội, được tiến cử làm quan, thăng đến chức Thiêm sự viện, được tặng hàm "Hoằng tiến đại phu" (chánh ngũ phẩm), tên thụy là Cung Thận.

Con trai Cụ đời thứ 8, tên tự Nguyễn Lệnh Khuê, tên thụy Tú Phố (1772-1746) giỏi văn chương phú bình, nổi tiếng trong thiên hạ, được triều đình vời ra làm quan, tiến cử giữ chức chép sử ở Hàn Lâm viện, rồi làm tri phủ Hà Trung và thăng đến chức Hộ Tào lang trung (trật chánh tứ phẩm). Cụ có hai chỉ dụ của vua Gia Long cử làm Khâm sai đến xứ Thanh Hoa, Nghệ An dẹp loạn. Vợ cả Cụ là thứ nữ của Tiến sĩ Thượng thư người họ Nguyễn, huyện Thanh Chương, Nghệ An.

Các đời thứ 9,10,11 có 7 người theo gương tiên tố thi đỗ Tú tài. Rõ là dòng họ rất vinh hiển, thiên hạ biết đến, xã hội trọng vọng, đời đời con cháu tự hào.

 

 

NGHÈ ĐÔNG LỖ - DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH

 

Trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa của xã Thiệu Hóa, Nghè Đông Lỗ (thuộc thôn Đông Lỗ, trước đây là xã Thiệu Long) là một trong những di tích tiêu biểu, phản ánh đời sống tín ngưỡng, truyền thống uống nước nhớ nguồn và quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Thiệu Hóa qua nhiều thế kỷ.

Picture 2

Nghè Đông Lỗ là nơi thờ hai vị Thành hoàng làng được nhân dân nhiều đời tôn kính là Cao Minh Quảng Đức tôn thần và Uy Minh Hoằng Đức tôn thần.

Theo Thanh Hóa chư thần lục, thần tích và thần sắc hiện còn lưu giữ tại di tích, hai vị thần được truyền tụng là những người có tài văn võ, có công giúp triều đình nhà Lý đánh dẹp giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi, lập nhiều chiến công và được nhân dân suy tôn làm Thành hoàng sau khi mất.

Mặc dù thần tích mang nhiều yếu tố huyền thoại - đặc trưng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam - nhưng hệ thống sắc phong qua nhiều triều đại đã khẳng định việc phụng thờ hai vị thần tại Đông Lỗ có lịch sử lâu đời.

Hiện di tích còn lưu giữ 19 đạo sắc phong, gồm:

10 đạo sắc thời Lê, từ niên hiệu Vĩnh Thịnh (1710) đến Cảnh Thịnh (1796);

9 đạo sắc thời Nguyễn, từ niên hiệu Thiệu Trị (1844) đến Khải Định (1924).

Đây là những tư liệu Hán Nôm quý giá, phản ánh quá trình các triều đại phong kiến nhiều lần sắc phong, gia phong mỹ tự cho hai vị Thành hoàng, đồng thời khẳng định vị trí quan trọng của Nghè Đông Lỗ trong đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương.

Hiện chưa có tài liệu xác định chính xác thời điểm xây dựng Nghè Đông Lỗ. Tuy nhiên, căn cứ hệ thống sắc phong từ đầu thế kỷ XVIII và các tư liệu lịch sử còn lưu giữ, có thể khẳng định di tích đã tồn tại ít nhất từ thời Hậu Lê.

Theo ký ức của các bậc cao niên trong làng, vào giai đoạn 1958 – 1960, nghè cũ bị phá dỡ để phục vụ các công trình công cộng.

Đến năm 2014, với sự đồng lòng của Nhân dân và sự quan tâm của chính quyền địa phương, Nghè Đông Lỗ được phục dựng trên nền đất cũ, góp phần khôi phục không gian văn hóa truyền thống của làng.

Nghè được xây dựng trên khu đất cao ráo, quay mặt về hướng Bắc, phía trước là dòng sông Cầu Chày và thế núi Tiên Nông tạo nên cảnh quan hài hòa theo quan niệm phong thủy truyền thống.

Công trình có kiến trúc hình chữ Nhất gồm ba gian, mái lợp ngói, hệ thống cửa gỗ kiểu bức bàn, sân rộng và tường bao khép kín.

Không gian thờ tự được bài trí trang nghiêm với hương án, long ngai, bài vị, bát hương, lư hương, hạc thờ cùng nhiều đồ tế khí phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng.

Bên cạnh giá trị kiến trúc, di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như bát hương đá cổ, các đạo sắc phong cùng nhiều hiện vật thờ tự truyền thống, góp phần phục vụ nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật và văn hóa dân gian.

Hằng năm, vào ngày 21 tháng 11 âm lịch, Nhân dân tổ chức lễ hội truyền thống nhằm tưởng nhớ công lao của hai vị Thành hoàng làng, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống bình yên.

Ngoài dịp lễ hội, vào các ngày mùng Một và Rằm hằng tháng, người dân vẫn đến dâng hương, gìn giữ nét đẹp tín ngưỡng đã được truyền từ nhiều thế hệ.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, Nghè Đông Lỗ đã được UBND tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh.


NHÀ BIA TƯỞNG NIỆM ĐỊA ĐIỂM KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN PHỦ THIỆU HÓA

Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh

Theo các thư tịch cổ, đặc biệt là Đại Nam nhất thống chí , phủ Thiệu Hóa trước đây có tên là phủ Thiệu Thiên. Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838), tên gọi Thiệu Hóa được sử dụng chính thức và duy trì cho đến ngày nay. Trụ sở phủ lỵ được đặt tại vùng đất Kiến Trung, thuộc làng Vạn Hà xưa, nay là khu vực trung tâm xã Thiệu Hóa.

Tháng 8 năm 1945, trước sự thất bại hoàn toàn của phát xít Nhật và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Tại Thanh Hóa, ngày 15/8/1945, Tỉnh ủy họp khẩn cấp tại làng Mao Xá (nay thuộc xã Thiệu Toán) quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh và thành lập Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh. Ngay sau đó, các huyện, phủ nhanh chóng thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, chuẩn bị lực lượng, vũ khí và kế hoạch hành động.

Picture 2

Ở phủ Thiệu Hóa, Ủy ban Khởi nghĩa được thành lập, khẩn trương huy động lực lượng tự vệ cứu quốc và quần chúng cách mạng từ các tổng, các làng trong huyện sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền.

Lúc bấy giờ, phủ lỵ Thiệu Hóa đóng tại Vạn Hà là nơi tập trung bộ máy chính quyền tay sai và lực lượng quân sự của địch. Nhận thấy phong trào cách mạng tại Thiệu Hóa phát triển mạnh, địch đã tăng cường nhiều toán lính bảo an, bố trí lực lượng canh phòng nghiêm ngặt tại phủ đường và Trường Tiểu học Pháp - Việt nhằm ngăn chặn cuộc khởi nghĩa.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19/8/1945, theo lệnh khởi nghĩa, lực lượng cách mạng Thiệu Hóa chia thành nhiều mũi tiến công phủ lỵ.

Mặc dù vũ khí còn rất thô sơ như súng trường, giáo mác, dao, gậy..., song với tinh thần quyết chiến quyết thắng, các đội tự vệ đã dũng cảm xông lên đánh chiếm các vị trí trọng yếu. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt. Quân địch ngoan cố chống trả bằng hỏa lực mạnh từ phủ đường và các vị trí phòng thủ.

Sau nhiều giờ chiến đấu liên tục, đến sáng ngày 19/8/1945, lực lượng cách mạng đã hoàn toàn làm chủ phủ lỵ Thiệu Hóa. Chính quyền cách mạng được thành lập trong niềm vui khôn xiết của Nhân dân.

Chiến thắng ấy đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám tại Thanh Hóa, cùng cả nước mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa phủ Thiệu Hóa được đánh đổi bằng máu của những người con ưu tú quê hương. Trong cuộc chiến đấu, 14 chiến sĩ tự vệ cách mạng đã anh dũng hy sinh và hơn 20 người khác bị thương. Sự hy sinh của các chiến sĩ là minh chứng sinh động cho tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của Nhân dân Thiệu Hóa trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Để ghi nhớ công lao của các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập dân tộc, trên chính khu vực diễn ra trận chiến ác liệt năm xưa, Nhà bia tưởng niệm địa điểm khởi nghĩa giành chính quyền phủ Thiệu Hóa đã được xây dựng.

Công trình nằm trên khuôn viên rộng hơn 1.200 m², hướng ra tuyến đường tỉnh lộ và gần cầu Thiệu Hóa bắc qua sông Chu. Trong khuôn viên có nhà bia, khu tưởng niệm, sân hành lễ, cây xanh và các hạng mục phụ trợ được quy hoạch trang nghiêm.

Tấm bia tưởng niệm ghi tóm tắt diễn biến cuộc khởi nghĩa, là nơi Nhân dân và các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, học sinh đến dâng hương, tưởng niệm, tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trải qua thời gian, nhiều công trình của phủ đường xưa không còn, nhưng không gian lịch sử của vùng đất Vạn Hà vẫn lưu giữ những dấu tích quý giá, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hình dung về một thời kỳ đấu tranh oanh liệt của quê hương.

Di tích lịch sử cách mạng Nhà bia tưởng niệm địa điểm khởi nghĩa giành chính quyền phủ Thiệu Hóa không chỉ là nơi ghi dấu thắng lợi của phong trào cách mạng địa phương trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn là minh chứng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và truyền thống đấu tranh cách mạng của Nhân dân Thiệu Hóa.

Hằng năm, vào các dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 và các ngày lễ lớn của đất nước, nơi đây trở thành điểm dâng hương, sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên và học sinh trên địa bàn.

VĂN TỪ BIA KÝ – DẤU ẤN TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC, KHOA BẢNG CỦA LÀNG ĐOÁN QUYẾT

Di tích văn hoá cấp tỉnh

Văn Từ Bia Ký là công trình kiến trúc tín ngưỡng - văn hóa có giá trị lịch sử, nơi lưu giữ những dấu tích về truyền thống hiếu học, trọng đạo lý và nền nếp khoa bảng của vùng đất Đoán Quyết.

Theo các tài liệu thu thập được, Văn Từ Bia Ký được xây dựng từ cuối thế kỷ XIV và trải qua nhiều lần tu bổ, xây dựng lại dưới thời Nguyễn. Trong đời sống văn hóa truyền thống của làng xã Việt Nam, Văn Từ là nơi thờ tự, tôn vinh các bậc tiên hiền, những người đỗ đạt, có công với quê hương; đồng thời là không gian giáo dục tinh thần hiếu học, khuyến khích thế hệ sau noi gương tiền nhân.

Trải qua hơn 600 năm tồn tại, Văn Từ Bia Ký chịu ảnh hưởng của kiến trúc truyền thống Việt Nam, thể hiện sự gắn bó giữa kiến trúc thờ tự với đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương. Những dấu tích còn lại tại di tích phản ánh một giai đoạn phát triển của văn hóa khoa bảng, khi việc học hành, thi cử được coi trọng và trở thành niềm tự hào của mỗi dòng họ, làng quê.

Picture 3

Hiện nay, Văn Từ Bia Ký còn lưu giữ được kiến trúc nhà gỗ truyền thống gồm 3 gian, 4 vì kèo. Công trình được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu gỗ lim, kết cấu theo kiểu vì giá chiêng, có các chi tiết kiến trúc được liên kết bằng hệ thống mộng truyền thống. Các vì kèo được tạo tác với những đường nét chạm khắc, kẻ chỉ tinh tế, tạo nên vẻ đẹp hài hòa, trang nghiêm cho công trình.

Đặc biệt, hai vì kèo gian giữa được thiết kế theo kiểu trốn hai cột cái, là dạng kiến trúc xuất hiện phổ biến vào khoảng thế kỷ XVIII - XIX, khi kiến trúc truyền thống có sự tiếp biến, điều chỉnh để mở rộng không gian sử dụng nhưng vẫn giữ được những yếu tố cơ bản của kiến trúc cổ truyền.

Không gian nội thất của Văn Từ có diện tích khoảng 44m², chia thành ba gian; trong đó hai gian đầu hồi rộng khoảng 2,3m, gian giữa rộng khoảng 2,5m. Phần hiên rộng 1,6m, mái lợp ngói ta, các cột được đặt trên hệ thống chân tảng đá. Cách bố trí không gian, kết cấu khung gỗ và vật liệu xây dựng cho thấy sự kế thừa rõ nét của kiến trúc nhà thờ, nhà từ truyền thống vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ.

Một trong những giá trị nổi bật của Văn Từ Bia Ký là hệ thống bia đá còn được lưu giữ tại di tích. Trong đó, bia “Văn Từ Bia Ký” là hiện vật có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu lịch sử khoa cử và truyền thống học hành của địa phương.

Nội dung văn bia cho biết những người có tên trong bia đã đỗ đạt qua các khoa thi dưới triều Nguyễn, gồm khoa thi năm Đinh Mão (1807), Canh Ngọ (1810) dưới triều vua Gia Long; khoa Mậu Tý (1828) dưới triều vua Minh Mạng và khoa Canh Tuất (1850) dưới triều vua Tự Đức. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để xác định niên đại bia vào khoảng nửa sau thế kỷ XIX.

Bia được tạo tác theo kiểu dáng truyền thống, gồm ba phần: đế bia, thân bia và chóp bia. Thân bia hình chữ nhật, được tạo đường viền bao quanh, phần chóp tạo hình bán nguyệt lượn sóng. Trên bia khắc các dòng chữ Hán ghi danh những người đỗ đạt, thể hiện sự trân trọng của cộng đồng đối với những người có thành tích trong học tập, khoa cử.

Ngoài bia “Văn Từ Bia Ký”, di tích còn lưu giữ một bia công đức hình chữ nhật, trên đó ghi họ tên, chức vụ và số tiền đóng góp của những người tham gia xây dựng, tu bổ công trình. Đây là nguồn tư liệu góp phần phản ánh sự chung tay của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị Văn Từ qua các thời kỳ.

Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, kiến trúc và văn hóa, Văn Từ Bia Ký không chỉ là nơi lưu giữ dấu tích về truyền thống khoa bảng của làng Đoán Quyết mà còn là di sản quý trong kho tàng văn hóa địa phương.

 

CHÙA VĨNH PHÚC – DẤU TÍCH NGÔI CHÙA CỔ BÊN VÙNG ĐẤT TRINH SƠN

Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh.

Chùa Vĩnh Phúc tọa lạc tại thôn Thành Lý, xã Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong những ngôi chùa cổ của vùng đất Thiệu Hóa, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của Nhân dân địa phương qua nhiều thế hệ.

Theo nội dung văn bia, chùa được dựng ở phía Đông núi Trinh Sơn - nơi đặt sơn lăng của vua Lê Ý Tông. Đây là vùng đất có địa thế đẹp, cảnh quan sơn thủy hữu tình, từ lâu đã được xem là thắng tích của địa phương.

Đến năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1845), sau nhiều năm tồn tại, chùa xuống cấp nghiêm trọng. Một vị quan triều Nguyễn có phu nhân quê ở Phù Nguyên đã phát tâm công đức gỗ để trùng tu chùa. Hưởng ứng việc làm đó, Nhân dân trong làng cùng đông đảo khách thập phương đã chung tay đóng góp tiền của, công sức để sửa chữa ngôi chùa và đúc một quả đại hồng chung.

Một trong những giá trị nổi bật của chùa Vĩnh Phúc là mối liên hệ với không gian lịch sử của khu vực Trinh Sơn, nơi đặt sơn lăng vua Lê Ý Tông. Sự hiện diện của ngôi chùa bên khu vực lăng mộ nhà vua phản ánh sự kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng Phật giáo với truyền thống tôn kính các bậc tiền nhân trong văn hóa Việt Nam.

Mặc dù đã trải qua nhiều biến động lịch sử, chùa Vĩnh Phúc vẫn bảo tồn được bộ khung kiến trúc gỗ truyền thống. Ngôi chùa được xây dựng theo kiểu chữ Nhất, gồm năm gian, kết cấu vì kèo theo lối chồng rường bẩy hiên, một đặc trưng của kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam.

Dù một số hạng mục đã bị ảnh hưởng trong giai đoạn sử dụng làm hợp tác xã những năm 1960–1970, tổng thể kiến trúc cổ vẫn được bảo lưu khá rõ nét, là tư liệu quý phục vụ nghiên cứu kiến trúc Phật giáo truyền thống ở xứ Thanh.

Từ nhiều đời nay, chùa Vĩnh Phúc là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của Nhân dân địa phương. Vào các ngày sóc, vọng, lễ Phật đản, lễ Vu Lan và các dịp đầu xuân năm mới, đông đảo Nhân dân và Phật tử trong vùng cùng khách thập phương đều đến dâng hương, lễ Phật, cầu mong quốc thái dân an, gia đình bình an, hạnh phúc.

Những giá trị lịch sử, văn hóa được lưu giữ trong hệ thống di tích trên địa bàn xã Thiệu Hóa là niềm tự hào của các thế hệ hôm nay. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản không chỉ góp phần gìn giữ những dấu ấn của cha ông mà còn tạo nền tảng quan trọng để giáo dục truyền thống, lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp trong cộng đồng, góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Thanh Mai
Từ khóa
Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND XÃ THIỆU HÓA
Địa chỉ: UBND Xã Thiệu Hóa
Email: thieuhoa@thanhhoa.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Đỗ Thành Đồng; Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã.

Đầu mối hỗ trợ ứng cứu sự cố ATTT: Cao Đức Thành - SĐT: 0945.853.993

Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Thiệu Hóa khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT

image banner