Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Huyện Thiệu Hóa

BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 10 NĂM 2021

Đăng ngày 28 - 10 - 2021
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

“TRÍCH” KẾT LUẬN SỐ 30-KL/HU NGÀY 02/8/2021 CỦA BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY

Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành Kết luận số 30-KL/HU, ngày 02/8/2021 về Đề án “Khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai để đầu tư một số dự án trọng điểm về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội huyện Thiệu Hóa, giai đoạn 2021-2025”; nội dung cơ bản như sau:

1. Quan điểm:

- Khai thác nguồn lực đất đai để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một chủ trương lớn, đúng đắn và là giải pháp quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, huyện Thiệu Hóa trở thành huyện phát triển khá và đến năm 2030 trở thành một trong các huyện dẫn đầu toàn tỉnh như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra.

- Khai thác nguồn lực từ đất đai phải tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị, khu dân cư khai thác quỹ đất phải có quy mô lớn theo hướng đồng bộ, hiện đại, hướng tới tiêu chuẩn đô thị, với không gian xanh, sinh thái, phù hợp với xu thế phát triển trong tình hình mới. Kết hợp hài hòa hệ thống hạ tầng kỹ thuật giữa khu dân cư mới và dân cư hiện trạng.

- Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải tránh dàn trải, có trọng tâm, trọng điểm tập trung phát triển các trục giao thông lớn có tính đối ngoại, đối nội mở rộng không gian phát triển đô thị và không gian cho phát triển kinh tế - xã hội; tập trung phát triển hạ tầng đô thị, khu dân cư mới tại các khu vực trung tâm tạo đà lan tỏa phát triển tổng thể kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

2. Mục tiêu:

2.1. Mục tiêu chung

Tạo bước đột phá trong công tác khai thác nguồn lực từ đất đai,

 tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng. Phấn đấu đến năm 2025, huy động đủ nguồn lực để đầu tư, hình thành một số khu đô thị, khu dân cư mới có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kiến trúc đẹp tạo điểm nhấn; đầu tư hạ tầng giao thông để bảo đảm kết nối với các huyện lân cận, kết nối liên xã theo hướng chuẩn đô thị; đầu tư củng cố nâng cấp hạ tầng văn hóa, cơ sở vật chất trường lớp học đạt chuẩn và từng bước hướng tới hệ thống giáo dục hiện đại, thông minh; và đầu tư một số chương trình trọng tâm trong xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng nông thôn mới.

2.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2025

* Về khai thác nguồn lực đất đai

Giai đoạn 2021-2025, tổng nguồn thu ngân sách từ khai thác quỹ đất toàn huyện khoảng trên 4.595 tỷ đồng (sau khi đã trừ đi chi phí GPMB và đầu tư hạ tầng). Trong đó, tổng thu điều tiết ngân sách huyện khoảng 2.695 tỷ đồng; ngân sách xã, thị trấn khoảng 1.900 tỷ đồng.

* Về xây dựng một số dự án kết cấu hạ tầng trọng tâm: giai đoạn 2021-2025, tổng nhu cầu vốn ngân sách huyện, xã, thị trấn để đầu tư một số dự án hạ tầng kinh tế - xã hội, chương trình trọng điểm là khoảng 2.652 tỷ đồng, trong đó: ngân sách huyện khoảng 2009 tỷ đồng; ngân sách xã, thị trấn khoảng 643 tỷ đồng. Bao gồm:

- Đầu tư một số tuyến đường giao thông quan trọng:

+ Khởi công và phấn đấu hoàn thành đầu tư mới một số tuyến đường giao thông trọng điểm có kết nối liên huyện, liên xã, trục trung tâm đô thị, kết nối với Khu công nghiệp, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư.

+ Nâng cấp các tuyến đường huyện để đạt quy mô đường cấp V đồng bằng; các tuyến đường đạt chuẩn đường giao thông nông thôn loại A (tương đương quy mô đường cấp VI đồng bằng).

- Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị: Đầu tư hoàn thiện đồng bộ hạ tầng một số khu đô thị, khu dân cư mới, xây dựng một số khu đô thị đẹp, hiện đại tại cửa ngõ và trung tâm thị trấn Thiệu Hóa, đô thị Hậu Hiền, đô thị Giang Quang, đô thị Ngọc Vũ, chỉnh trang một số khu dân cư hiện hữu.

- Đầu tư hạ tầng giáo dục đào tạo: 100% các trường (THPT, THCS, Tiểu học, Mầm non) đạt tiêu chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, trong đó có 70% số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ cao. Đầu tư xây dựng trường THCS trọng điểm chất lượng tại thị trấn Thiệu Hóa.

- Đầu tư hạ tầng phát triển vùng nông nghiệp công nghệ cao: Hoàn thiện các công trình thủy lợi đầu mối; đầu tư các hạng mục chính (giao thông, cấp điện, cấp nước) phục vụ hạ tầng nông nghiệp chất lượng cao.

- Đầu tư Chương trình đầu tư văn hóa, di tích: Tu bổ, nâng cấp và mở rộng một số di tích lịch sử, cách mạng trên địa bàn gắn với phát triển du lịch.

- Đầu tư Chương trình nông thôn mới: Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng các hạng mục chỉnh trang cảnh quan, hạ tầng đạt tiêu chuẩn nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu (nhựa hóa trục tuyến đường vào trung tâm xã; mở rộng, chỉnh trang các tuyến đường liên thôn, hệ thống chiếu sáng đường theo tiêu chuẩn…).

3. Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

3.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu rõ chủ trương khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai để đầu tư một số dự án, công trình trọng điểm, có tính đột phát trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới và giai đoạn tiếp theo, tạo sự đồng thuận, đồng lòng trong quá trình triển khai thực hiện Đề án.

- Triển khai thực hiện Đề án một cách nhất quán, xuyên suốt, đồng bộ từ huyện đến cơ sở; nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong việc triển khai thực hiện đề án ở địa phương, lĩnh vực mình.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng công công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất, đầu tư kết cấu hạ tầng.

3.2. Thực hiện tốt công tác quy hoạch với phương châm “lấy quy hoạch nuôi quy hoạch”

- Đẩy mạnh tiến độ lập quy hoạch chung xây dựng xã, quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng các khu vực đã có quy hoạch chung; khẩn trương lập quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, yêu cầu xây thô hoàn thiện mặt ngoài tạo điểm nhấn kiến trúc khu vực dọc các tuyến đường trung tâm huyện, các tuyến đường chính, các tuyến đường cửa ngõ của huyện.

- Lựa chọn những đơn vị tư vấn có chất lượng, thương hiệu để triển khai các dự án trên địa bàn nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất và đầu tư kết cấu hạ tầng; một số công trình, dự án quan trọng có thể lựa chọn tư vấn thông qua thi tuyển kiến trúc hoặc mời đơn vị tư vấn nước ngoài; kiên quyết loại bỏ, không lựa chọn những tư vấn kém chất lượng, không đủ điều kiện hành nghề hoặc có những đồ án tiến độ chậm, kém chất lượng, phải điều chỉnh, chỉnh sửa nhiều lần.

- Thường xuyên rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm, quy hoạch xây dựng có liên quan để kịp thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung làm cơ sở triển khai, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.

- Nâng cao chất lượng và rút ngắn thời gian lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch theo quy định; kịp thời công bố, công khai và triển khai quy hoạch đã được phê duyệt theo quy định.

3.3. Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng

- Huy động cả hệ thống chính trị cho công tác giải phóng mặt bằng; tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân để tạo sự đồng thuận và chấp hành những quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ bồi thường, tái định cư theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong triển khai thực hiện dự án.

- Chủ động trong việc lập kế hoạch giải phóng mặt bằng dự án ngay từ bước chuẩn bị đầu tư, quyết định phê duyệt dự án; tất cả các dự án phải thực hiện bước tuyên truyền giải phóng mặt bằng cho các đối tượng trong vùng ảnh hưởng của dự án ngay sau khi có chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền. Phấn đấu cơ bản hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng thi công khi thực hiện xong công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thi công dự án.

- Ưu tiên bố trí vốn cho công tác giải phóng mặt bằng trong kế hoạch đầu tư công hằng năm, nhất là vốn cho các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu đô thị, khu dân cư có lợi thế tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

- Kịp thời tháo gỡ khó khăn, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất theo quy định; hỗ trợ giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho các gia đình bị ảnh hưởng trong giải phóng mặt bằng.

3.4. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án theo quy hoạch được duyệt

- Thường xuyên đôn đốc, giao ban, tháo gỡ khó khăn cho các nhà thầu để đẩy nhanh, phấn đấu các dự án hạ tầng mặt bằng khai thác quỹ đất, dự án hạ tầng trọng điểm có thời gian thi công được rút ngắn hơn so với quy định, nhưng vẫn đảm bảo quy trình kỹ thuật, chất lượng đề ra.

- Phân công các đồng chí lãnh đạo UBND huyện phụ trách trực tiếp từng dự án theo lĩnh vực đầu tư; phê duyệt tiến độ thực hiện đối với các dự án trọng điểm gắn với nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, phòng, ban và UBND các xã, thị trấn có liên quan.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng công trình; kịp thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung các nội dung bất cập, chưa phù hợp để dự án đưa vào sử dụng, hoạt động có hiệu quả.

3.5. Đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án có sử dụng đất

- Trên cơ sở quy hoạch vùng, các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, thường xuyên rà soát, trình duyệt danh mục các dự án có sử dụng đất trên cơ sở tiềm năng, lợi thế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện để mời gọi các nhà đầu tư, doanh nghiệp có năng lực triển khai các dự án.

- Thường xuyên quan tâm, hỗ trợ về hồ sơ pháp lý cho các nhà đầu tư để làm cơ sở, sớm triển khai thực hiện dự án.

3.6. Rà soát, sắp xếp, xử lý và khai thác có hiệu quả các tài sản công dôi dư, quỹ đất công theo quy định pháp luật

Chủ động rà soát, báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy, cấp có thẩm quyền phương án sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà đất, quỹ đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn dôi dư, không còn nhu cầu sử dụng để quy hoạch, chuyển đổi mục đích, khai thác quỹ đất đảm bảo đúng quy định pháp luật tránh để xuống cấp, hư hỏng, lãng phí nhưng cũng tránh thất thoát tài sản công.

3.7. Làm tốt công tác định giá, lập kế hoạch đấu giá, đấu thầu; tăng cường quản lý chặt chẽ công tác thu từ nguồn khai thác quỹ đất

- Chủ động công tác định giá, lập kế hoạch đấu giá các mặt bằng khi đủ điều kiện đấu giá. Chỉ đạo đảm bảo quản lý chặt chẽ hồ sơ đấu giá, thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch, có biện pháp mạnh mẽ phòng, chống hiện tượng “thao túng” “làm giá” tại các phiên đấu giá quyền sử dụng đất.

- Có kế hoạch thông tin, tuyên truyền, giới thiệu về các khu đô thị, khu dân cư dự kiến đấu giá để thu hút các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tham gia.

- Thường xuyên đôn đốc các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ tài chính sau đấu giá; có biện pháp kiên quyết xử lý các trường hợp chây ỳ, chậm nộp ảnh hưởng đến kế hoạch thu ngân sách của huyện./.

                                                                           Ban Biên tập

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH, CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ                 

    9 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

1. Tình hình kinh tế - xã hội

- Sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Sản xuất nông nghiệp được mùa ở cả 3 vụ; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 1.952 tỷ đồng; tổng diện tích trồng trọt là 20.375ha; năng suất lúa vụ Chiêm Xuân đạt 72,6 tạ/ha; vụ Mùa đạt 60 tạ/ha; sản lượng cây lương thực có hạt đạt 113,2 nghìn tấn; xây dựng vùng liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm lúa đạt 1.051,9ha; chuyển đổi được 112,4ha đất nông nghiệp sang sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; duy trì phát triển mô hình sản xuất rau an toàn tập trung quy mô 33ha; xây dựng thêm 13.000m2 nhà màng và nhà lưới sản xuất rau, củ, quả an toàn và hoa. Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản phát triển khá; tổng giá trị sản xuất ước đạt 59 tỷ đồng; làm tốt công tác phòng chống thiên tai.

Tập trung chỉ đạo rà soát, củng cố và nâng cao các tiêu chí nông thôn mới cấp huyện, cấp xã. Hoàn thành việc lấy ý kiến các ngành cấp tỉnh, hoàn thiện hồ sơ huyện nông thôn mới. 9 tháng có 02 sản phẩm trống đồng của làng nghề Trà Đông, xã Thiệu Trung được công nhận sản phẩm OCOP 4 sao; 01 sản phẩm dưa vàng Kim Hoàng Hậu của HTX dịch vụ nông nghiệp Thiệu Hưng, thị trấn Thiệu Hóa đã được Hội đồng OCOP tỉnh chấm đạt 4 sao. Tiếp tục thực hiện công tác vệ sinh môi trường, chỉnh trang cảnh quan nông thôn, đô thị góp phần xây dựng NTM.

- Công nghiệp - xây dựng: Công nghiệp duy trì tăng trưởng khá; giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 1.684 tỷ đồng; tổng huy động vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 2.021 tỷ đồng; đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, thi công 103 dự án; kết quả thực hiện giải ngân vốn đầu tư công đạt khá, trong đó vốn ngân sách tỉnh đã giải ngân đạt 61%; vốn ngân sách huyện, đã giải đạt 47,9% KH vốn giao đợt 1, đạt 12% tổng nhu cầu vốn kế hoạch đầu tư năm 2021.

Tổ chức công bố, công khai Quy hoạch xây dựng vùng huyện Thiệu Hóa đến năm 2040. Trình phê duyệt hồ sơ điều chỉnh, mở rộng Quy hoạch chung thị trấn Thiệu Hóa đến năm 2035; Quy hoạch chung điều chỉnh, mở rộng đô thị Hậu Hiền đến năm 2040; bổ sung cụm công nghiệp Hậu Hiền vào Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với quy mô 25ha tại xã Minh Tâm.

- Dịch vụ, thương mại: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 3.101 tỷ đồng; tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa đạt 6,7 triệu USD; dịch vụ vận chuyển hàng hóa đạt khối lượng 5.405 nghìn tấn; đã hoàn thành và đưa vào hoạt động Trung tâm thương mại The City của Tập đoàn Lan Chi, khu thương mại Tổng hợp Eco City của Doanh nghiệp Thực Hằng... Các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã huy động nguồn vốn nhàn rỗi, đáp ứng vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng...

- Công tác phát triển doanh nghiệp 9 tháng thành lập mới được 50 doanh nghiệp, đạt 108,7% so với kế hoạch tỉnh giao.

- Công tác quản lý ngân sách nhà nước: Thu ngân sách ước đạt 276,13 tỷ đồng, gấp 1,04 lần so với cùng kỳ. Chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực.

- Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường: Đã được tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu kỳ 2021. Tăng cường công tác quản lý khai thác cát đối với các xã, thị trấn dọc sông Chu, sông Mã; thu hồi đất giải phóng mặt bằng 31,43ha với 17 dự án để triển khai các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công 282 lô với diện tích 37.995m2 tại 16 xã với số tiền 252 tỷ đồng. Rà soát, cấp 571 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu; 108 giấy chứng nhận diện tồn đọng kéo dài; tích cực, chủ động tham vấn ý kiến các ngành liên quan để tìm giải pháp giải quyết đất đai cho các hộ dân vùng kinh tế mới tại xã Thiệu Giang.

- Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo rà soát, điều chỉnh kế hoạch, chương trình giáo dục và chỉ đạo tổng kết năm học 2020-2021, triển khai nhiệm vụ năm học 2021-2022; triển khai thực hiện Đề án “xây dựng trường THCS thị trấn Vạn Hà thành trường trọng điểm về chất lượng, giai đoạn 2021-2025” và Đề án tăng cường cơ sở vật chất trường lớp học trên địa bàn toàn huyện.

- Lĩnh vực Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao: Tập trung tuyên truyền về các ngày lễ kỷ niệm lớn của quê hương, đất nước; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Thanh Hóa tăng cường xây dựng phóng sự tuyên truyền, tin bài phát sóng. Tổ chức phát động sự kiện thể thao vì sức khỏe toàn dân ngày chạy Olympic năm 2021 với hơn 13.000 người tham gia; hưởng ứng tuần lễ Giờ Trái đất; ngày Môi trường Thế giới...

- Lĩnh vực Y tế: Tiếp tục thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho Nhân dân trên địa bàn; chủ động xây dựng, triển khai các kịch bản phòng, chống tương ứng với các cấp độ của dịch Covid-19; thực hiện nghiêm túc cách ly tập trung đối với công dân từ các vùng có nguy cơ cao trở về địa phương; tổ chức tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho 11.579 người (trong đó: 8.847 người tiêm mũi 1 và 2.732 người tiêm mũi 2). Quan tâm đẩy mạnh công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội: Công tác giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm lãnh đạo; lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có thu nhập trung bình và thực hiện việc hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ; 9 tháng đã giải quyết việc làm cho 880 lao động, trong đó có 125 lao động đi làm việc có thời hạn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan...

2. Công tác quốc phòng - an ninh

- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giữ vững ổn định, không để xảy ra vụ việc phức tạp. Tổ chức Hội thi nhận thức pháp luật về Dân quân tự vệ và công tác tập huấn diễn tập phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn (tại 3 xã) và diễn tập chiến đấu phòng thủ (tại 6 xã) đạt kết quả tốt. Bảo đảm đầy đủ các điều kiện vận hành các khu cách ly tập trung cấp huyện và xã phục vụ công tác phòng, chống Covid-19; duy trì và thực hiện nghiêm các chốt kiểm soát dịch Covid-19 theo quy định; 9 tháng đã giải quyết 78 vụ vi phạm pháp luật và đã thu nhận hơn 101.000 hồ sơ đăng ký làm căn cước công dân gắn chíp điện tử.

- Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo được quan tâm giải quyết cơ bản kịp thời. Thanh tra huyện đã tổ chức thanh tra 30 cuộc, hoàn thành 24/30.

3. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Ban Thường vụ Huyện ủy thông qua các chương trình trọng tâm, các khâu đột phá để ban hành và triển khai thực hiện; chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, xây dựng các quy hoạch, cơ chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các nghị quyết giai đoạn 2020-2025.

- Công tác chính trị tư tưởng: Tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, của tỉnh và huyện; hoạt động của BCĐ 35 về tăng cường công tác chỉ đạo bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng phát huy hiệu quả; tổ chức 02 lớp bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ công tác Đảng cho 167 phó bí thư chi bộ thôn, tiểu khu; 6 lớp cảm tình Đảng cho 240 quần chúng ưu tú và 01 lớp đảng viên mới với 59 đồng chí; tổ chức kiểm tra nhận thức về đảng cho 77 đồng chí.

- Công tác tổ chức, cán bộ: Thực hiện quy trình nhân sự, tổ chức bầu Phó Bí thư Huyện ủy; Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND huyện; phân công lại nhiệm vụ đối với 2 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ; bầu bổ sung Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, phân công giữ chức Trưởng ban Dân vận, Chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện. Thống nhất bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử, điều động 64 cán bộ thuộc diện quản lý. Tham mưu nội dung gợi ý kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy và cá nhân các đồng chí bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã, thị trấn trong công tác quản lý đất đai và công tác phòng chống dịch Covid-19. Trao Huy hiệu Đảng cho 545 đảng viên, kết nạp 77 quần chúng ưu tú vào Đảng.

- Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng: Tiến hành kiểm tra đối với 37 tổ chức đảng và giám sát đối với 27 tổ chức đảng. Ủy ban Kiểm tra các cấp tổ chức kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 95 đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ; đã thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm đối với 89 trường hợp; đình chỉ sinh hoạt Đảng, sinh hoạt cấp ủy đối với 11 đồng chí. Kiện toàn chức danh Ủy viên UBKT, Chủ nhiệm UBKT đảng ủy cơ sở theo quy định của Điều lệ Đảng; tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật Đảng. Tập trung giải quyết đơn thư, kiến nghị ngay từ cơ sở đảm bảo nguyên tắc, quy trình, thời gian theo quy định.

- Công tác dân vận: Tăng cường theo dõi, nắm bắt tình hình đời sống Nhân dân, tình hình cơ sở; tiếp tục phát huy hiệu quả của phong trào thi đua dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện các quy định về phòng, chống dịch Covid-19...

- Hoạt động của HĐND huyện: Tăng cường đôn đốc các ngành giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức tổng kết nhiệm kỳ 2016-2021 của HĐND huyện. Tổ chức kỳ họp theo kế hoạch.

- Ủy ban nhân dân các cấp: Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các mặt; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc công tác quản lý tổ chức bộ máy; quản lý công chức, viên chức; xây dựng chính quyền; chính sách cán bộ; Chủ tịch UBND huyện đã phê bình 10 xã trong thực hiện nhiệm vụ. Hướng dẫn miễn nhiệm, bầu, kiện toàn các chức danh lãnh đạo chính quyền; chỉ đạo thu hoạch vụ mùa, triển khai phương án sản xuất vụ Đông đảm bảo đúng lịch thời vụ; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình, dự án; tập trung giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương và chỉ đạo của ngành dọc để tổ chức thực hiện; trọng tâm tuyên truyền, vận động, phối hợp triển khai các chỉ thị, nghị quyết Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thi đua lao động sản xuất; tích cực tham gia xây dựng Nông thôn mới nâng cao; thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19; tiếp tục tổ chức có hiệu quả các hoạt động vệ sinh môi trường, chỉnh trang cảnh quan khuôn viên nông thôn, đô thị; phối hợp giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo; triển khai kế hoạch lấy phiếu xin ý kiến của người dân đánh giá sự hài lòng về huyện nông thôn mới với tỷ lệ cao 98,5%.

Trịnh Văn Đệ                    

    HUV, CVP Huyện ủy

BHXH THIỆU HÓA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CHUYỂN ĐỔI SỐ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH, BHYT QUA ỨNG DỤNG VssID

Ứng dụng VssID là dịch vụ tiện ích trên thiết bị điện thoại thông minh có nhiều tính năng, tiện ích phục vụ linh hoạt các nhu cầu thông tin thiết yếu cho người tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Ứng dụng cung cấp các thông tin về: Thẻ BHYT; quá trình tham gia (BHXH, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp, BHYT); Thông tin hưởng (các chế độ một lần: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp); Sổ khám chữa bệnh. Ứng dụng cũng cung cấp các tiện ích tra cứu: Mã số BHXH; Cơ quan BHXH; Cơ sở KCB ký hợp đồng KCB BHYT; Cơ sở KCB cấp giấy nghỉ hưởng chế độ BHXH; Đơn vị tham gia BHXH; Điểm thu, đại lý thu BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình… Ứng dụng cung cấp các tin tức hoạt động ngành BHXH; các video về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN... để giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích, quyền lợi được hưởng, cũng như cách thức khi tham gia BHXH, BHYT.

Với mục tiêu hướng tới tích hợp tiện ích: Thẻ BHYT, sổ BHXH điện tử thay thế sổ và thẻ giấy; dịch vụ công; thanh toán trực tuyến..., VssID - BHXH số giúp người tham gia BHXH, BHYT, BHTN dễ dàng nắm bắt được quá trình tham gia, thụ hưởng các chính sách về bảo hiểm của bản thân; đồng thời tự giám sát, bảo vệ quyền lợi an sinh của mình. Bên cạnh đó, VssID - BHXH số còn là một kênh truyền thông trực tiếp đến người tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, để người sử dụng thấy được giá trị nhân văn của chính sách BHXH, BHYT của Đảng và Nhà nước. VssID - BHXH số là bước tiến mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số của ngành BHXH Việt Nam, góp phần thực hiện những nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách BHXH. Qua đó, thực hiện chiến lược số quốc gia, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử.

Từ đầu năm 2021 đến nay, BHXH xã hội huyện đã triển khai sâu rộng ứng dụng VssID - BHXH số trên địa bàn huyện, tích cực hướng dẫn, đăng ký cài đặt ứng dụng VssID cho các đối tượng tham gia BHXH, BHYT... Trong quá trình thực hiện, BHXH huyện đã tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện ban hành văn bản chỉ đạo triển khai cài đặt ứng dụng “VssID - Bảo hiểm xã hội số”; kịp thời phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đơn vị, các tổ chức đoàn thể, các xã, thị trấn; đa dạng, linh hoạt trong công tác tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, BHXH huyện đã phân công cán bộ chuyên quản hướng dẫn, hỗ trợ đơn vị, đại lý thu và người tham gia đồng thời giao chỉ tiêu, đánh giá tiến độ hằng tuần về người tham gia BHXH, BHYT đăng ký, cài đặt ứng dụng VssID - BHXH số trên thiết bị di động.

Với hiệu quả và lợi ích đã được thấy rõ, ngay khi triển khai ứng dụng cài đặt này, BHXH huyện Thiệu Hóa đã thực hiện nhiều giải pháp để đảm bảo triển khai có hiệu quả việc đưa ứng dụng VssID đối với công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Trong đó, công tác tuyên truyền tiện ích, hướng dẫn việc cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID cho người dân tham gia BHXH, BHYT trên địa bàn đặc biệt được chú trọng. Phối hợp với các cơ sở KCB triển khai việc sử dụng ứng dụng VssID trong khám chữa bệnh BHYT.Theo đó, từ ngày 01/6/2021, các cơ sở y tế trên địa bàn huyện đã thực hiện việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để thay thế cho việc sử thẻ BHYT giấy khi đi khám chữa bệnh đối với các trường hợp tham gia BHYT đã cài đặt ứng dụng VssID trên điện thoại cá nhân đã tạo thuận lợi tối đa về thời gian, giảm chi phí cho người tham gia và đơn vị.

Với sự nỗ lực của BHXH huyện và sự hưởng ứng của các tổ chức, cá nhân, đến ngày 30/9/2021, toàn huyện đã có tổng số 25.326 người cài đặt ứng dụng VssID, đạt 90,1% kế hoạch tỉnh giao; đạt 15,6%  so với dân số toàn huyện.

Thực hiện Nghị quyết 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Thông qua sử dụng ứng dụng VssID, người lao động tự khai báo và chuyển hồ sơ đăng ký cho cơ quan BHXH, đã được rút ngắn từ 5-10 ngày so với quy định tại Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Điều này càng minh chứng rõ nét hơn cho việc ngành BHXH Việt Nam đã quyết liệt, chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp với phương châm đưa chính sách hỗ trợ đến NLĐ, NSDLĐ một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất và chính xác nhất, góp phần hỗ trợ NLĐ tham gia BHTN khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, giúp NSDLĐ có thêm chi phí duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh và chuỗi cung ứng lao động, cung cấp việc làm và tạo thu nhập cho NLĐ.

Những kết quả rất tích cực đã đạt được cho thấy nỗ lực và quyết tâm cao của BHXH huyện Thiệu Hóa, đồng thời khẳng định việc triển khai sử dụng ứng dụng VssID là bước đi phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số của ngành BHXH./.

Hoàng Khắc Thành

Phó Giám đốc BHXH huyện

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM  SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

NHẬN DIỆN TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Tiêu cực trong cán bộ, đảng viên là những thói hư, tật xấu, khuyết điểm, là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh, có tác dụng xấu của cán bộ, đảng viên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, uy tín của Đảng, có hại cho Nhân dân, cản trở quá trình phát triển của xã hội. “Tiêu cực” có nội hàm rất rộng, với nhiều biểu hiện khác nhau cả trong nhận thức lẫn hành vi, với tính chất, mức độ khác nhau. Việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của “tiêu cực” là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của “tiêu cực” là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã có chiều hướng thuyên giảm. Đánh giá của đầu nhiệm kỳ là “chưa đạt được mục tiêu đề ra”, “chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”, đến cuối nhiệm kỳ được đánh giá “đạt được kết quả toàn diện” tuy “còn diễn biến phức tạp”.

Báo cáo kết quả điều tra dư luận xã hội về “Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng” do Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện tháng 11/2020 cho thấy, đa số người được hỏi (trên 50%) cho rằng những vấn đề, hiện tượng xấu, tiêu cực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII đã giảm đi, đó là: Hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết trong chi bộ, đảng bộ, cấp ủy đảng (64%); Tham nhũng (58%); Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên và trong xã hội (58%); Kỷ cương, phép nước không nghiêm, “lệ to hơn luật” (56%); Quan liêu, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức (52%); Bè phái, cục bộ, địa phương chủ nghĩa (52%). 

Tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn hạn chế. Các biểu hiện tiêu cực diễn ra ở các cấp, ngành, các lĩnh vực, từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Nghị quyết Đại hội XIII đã thẳng thắn chỉ ra: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ;… Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

Những hiện tượng tiêu cực đó đã gây bức xúc trong xã hội. Trong các tiêu cực, cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội quan tâm, bức xúc nhiều trước một số tình trạng tiêu cực sau:

Một là, lợi ích nhóm. Đây là biểu hiện có trong tất cả các lĩnh vực; trong đó đáng lo ngại nhất là quản lý nhà nước đối với kinh tế, quản lý con người, công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. “Lợi ích nhóm” làm cản trở quá trình cải cách tư pháp, hành chính, từng bước làm vô hiệu hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm chệch định hướng phát triển, tăng sự phân hóa trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tiềm ẩn sự mâu thuẫn trong xã hội. “Lợi ích nhóm” từng bước làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, sai lệch các chuẩn mực xã hội, gây mâu thuẫn nội bộ, làm xói mòn lòng tin giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiêu cực trong công tác cán bộ. Các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ thường thấy là chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm... Biểu hiện là tình trạng đúng quy trình nhưng không chọn được những cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; hợp thức hóa quy trình bằng nhiều cách khác nhau diễn ra ngày càng nhiều. Tình trạng chạy chức, chạy quyền có phần tinh vi hơn, với nhiều thủ đoạn khác nhau, biểu hiện ngày càng phức tạp, khó nhận biết. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm theo hiệu ứng domino, bổ nhiệm tràn lan… gây bức xúc trong xã hội.

Ba là, tình trạng tham nhũng “vặt”. Tình trạng này xuất hiện ở nhiều nơi, trong nhiều cơ quan, tổ chức và ở những vị trí khác nhau; xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính; quản lý trật tự giao thông, đô thị; y tế; giáo dục; hải quan; thuế; tuyển dụng, đề bạt, sắp xếp, bố trí, bổ nhiệm cán bộ công chức… và nó “biến tướng” dưới nhiều hình thức nên không dễ phát hiện, xử lý. Tham nhũng vặt tuy giá trị không lớn nhưng nó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho địa phương, đơn vị trong thu hút đầu tư; làm giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp… Đồng thời nó là nguyên nhân dẫn đến vi phạm nghiêm trọng đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức của Đảng nói chung.

Bốn là, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi...

Năm là, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... Những hành vi này tác động không nhỏ đến dư luận xã hội, gây phản cảm trong Nhân dân, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên, suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước.

 (“Còn tiếp” số tháng 11/2021: “Phòng chống những biểu hiện tiêu cực trong cán bộ, đảng viên”)

                                                      Ban Biên tập

 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG,  ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

VỀ HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,  PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh dễ hay khó, như thế nào cho hiệu quả? Trả lời được câu hỏi này, mới có thể nhận thức đúng và có hành động đúng, không rơi vào sự giáo điều, máy móc, dẫn đến mất phương hướng trong chỉ đạo và trong thực hiện học tập và làm theo Bác.

Dễ hay khó?

Thực sự, ai đó đặt mục tiêu, học, làm theo Bác để trở thành một người như Bác - điều đó là khó có thể. Bởi để trở thành một người dành trọn niềm tin, sự tôn kính của cả dân tộc cũng như của nhân loại tiến bộ như Bác là cả một quá trình học tập, rèn luyện vất vả và quá trình ấy cũng phải diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt.

Nhưng học và làm theo Bác chắc chắn không phải là cái gì đó quá cao siêu. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là chuẩn mực của tất thảy những việc diễn ra trong cuộc sống thường ngày, khi thật tâm, thì soi chiếu vào đó, ai cũng đều có thể thấy được những việc mình có thể học theo, làm theo Người.

Đó có thể là một thái độ ứng xử, hòa nhã, đúng mực của người cán bộ trong mỗi lần tiếp xúc với dân; là sự nêu cao trách nhiệm, làm hết việc, chứ không làm hết giờ trong thực thi công vụ hằng ngày của mỗi người. Đó cũng có thể là một hành động sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành nhiệm vụ; hay chỉ là sự sẵn lòng chia sẻ khó khăn với người khó khăn hơn mình… Làm tốt những điều này chính là mỗi người đã học làm theo tấm gương hết lòng phục vụ nhân dân; tình đoàn kết, thương yêu đồng chí, thương yêu con người - những giá trị đạo đức tốt đẹp được kết tinh trong con người của Bác. 

Những điều học Bác thời gian qua đã được hiển thị trong nhiều công việc trong cuộc sống của người dân. Có thể kể gần đây nhất, trong những ngày tháng, khi cả nước gồng mình chống chọi với dịch Covid-19, biết bao tấm gương sống đẹp, sống trách nhiệm với xã hội đã xuất hiện, và những tấm gương này ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh, điều kiện. Có cụ già ngoài 80, không quản mệt nhọc đã mang góp quả bí đao, mớ rau muống nhà trồng được; có em nhỏ nhịn ăn sáng để góp 100.000 đồng; người có điều kiện hơn thì góp tiền mua gạo, mua thiết bị y tế, mua thuốc men để trợ giúp người nghèo, người bệnh…; và, có người góp công, góp sức, ngày đêm không quản nắng mưa canh chốt, nhắc nhở người dân chấp hành kỷ luật trong đợt dịch… Còn nhiều việc tốt lớn, nhỏ khác của người dân, của người cán bộ trong đời thường, trong công việc không thể kể hết. Nhưng tất cả đều toát lên ở đó là trái tim nhân hậu, một lòng giúp đỡ, yêu thương đồng bào với mong mỏi đại dịch qua mau để đất nước từ Bắc chí Nam, để thế giới lại bình an như ngày nào. Đó là những việc làm từ tâm, là sự yêu thương con người, tinh thần đoàn kết, là tư duy độc lập, sáng tạo, là cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn… Những việc làm tưởng chừng giản dị đời thường ấy nhưng đó chính là những việc làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.      

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là vô cùng rộng lớn, nhưng nói học và làm theo Người không khó là như thế.

Học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không khó. Ai cũng có thể làm. Thế nhưng tại sao, mỗi khi đánh giá, chúng ta lại tỏ ra lúng túng? Tại sao vẫn khó khăn trong phân biệt việc học Bác, làm theo Bác và những việc tốt bình thường ngày? Đây cũng là lý do thời gian qua, có địa phương đơn vị nhận định, việc làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức của Người vẫn chưa đi vào chiều sâu và chưa thực chất.

Để thực hiện học tập và làm theo Bác hiệu quả, có thể thấy 3 việc cần lưu tâm:

Thứ nhất về học tập, cần tổ chức và đổi mới hình thức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác hơn nữa. Phải hiểu Bác mới làm theo Bác đúng được. Phải hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là gì thì mới tự giác làm theo Bác hiệu quả. Thực tế, cũng có những điển hình được khen thưởng trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở nhiều cấp, nhưng khi được hỏi đã học và làm theo Bác ở điểm nào thì lại rất lúng túng. Chính vì vậy, chưa thể nói nhiều đến việc làm sao làm theo Bác cho hiệu quả khi chưa hiểu thật sâu sắc về Người. Đây là điểm rất cần được khắc phục tới đây.

Việc học là sự nghiệp suốt đời của mỗi người. Học theo Bác cũng vậy, cần là việc học thường xuyên liên tục. Đó là việc tự học, tự trau dồi mỗi ngày; học từ tổ chức, từ tập thể nơi mình sinh sống, làm việc; có thể học qua sách vở, học qua các tấm gương, qua các mô hình điển hình; học qua truyền miệng, qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đã có nhiều cách làm sáng tạo, linh hoạt từ các địa phương và các tổ chức. Bên cạnh những cách học truyền thống như vậy cũng có một số cách học đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp thu đó là học tập, truyền dạy thông qua việc khai thác những câu văn, thơ, câu nói ngắn gọn, những điển ngữ mà Người đã sử dụng để người học dễ nhớ, dần thẩm thấu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Và trong từng lĩnh vực cụ thể, trong từng thời điểm cụ thể, Bác cũng có những câu nói trở thành chân lý của thời đại. Kho tàng tư tưởng, đạo đức, phong cách của của Chủ tịch Hồ Chí Minh những câu nói dễ nghe và dễ nhớ; khi nhớ thì dễ ngấm và khó quên. Nếu khai thác tốt nguồn tư liệu này, các cá nhân, các đơn vị, tổ chức tiếp tục tổ chức vận dụng trong những hoàn cảnh cụ thể, phù hợp, điều này sẽ khiến cho cán bộ, quần chúng thêm hiểu sâu, từ đó ngấm dần tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, từng bước làm theo và đặc biệt dần hiểu mình đã vận dụng, làm theo Bác được điểm nào.

Cùng với đó việc học tập có thể bằng cách các tổ chức, đơn vị khai thác, tận dụng tối đa các diễn đàn, các nền tảng công nghệ để lồng ghép, hướng dẫn và “lôi kéo” công chúng cùng tham gia tương tác về những chủ đề cụ thể liên quan đến tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp xúc thường xuyên bằng nhiều cách, công chúng sẽ phải liên tục tìm đọc, nghe, xem… và cứ đều đặn như vậy, tư tưởng, đạo đức, phong cách, những câu nói giản dị nhưng sâu sắc, mang tầm thời đại của Người sẽ thấm dần vào tâm trí người được tác động và đó là cơ sở để biến những điều trên giấy tờ thành những hành động cụ thể. 

Thứ hai về làm theo, học, hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác rồi, nhưng điều đó chỉ thật sự có giá trị khi những điều đã học được hiện thực hóa trong cuộc sống, trong từng công việc. Cần phải tiếp tục đổi mới, sáng tạo hơn trong cách làm, đặc biệt là cần phải gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị. 

Tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Bác chỉ phát huy hiệu quả khi tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trong suy nghĩ và trở thành hành động tự giác của mỗi người, mỗi cơ quan đơn vị. Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân nên chọn ra một số nội dung trọng tâm, trọng điểm trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác phù hợp với nhiệm vụ chính trị của mình, phù hợp với bối cảnh cụ thể để học tập sâu, tổ chức thực hiện kỹ. Như vậy, kết quả làm theo Bác sẽ thiết thực và hiệu quả hơn so với cách làm hiện tại. 

Thứ ba, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải tự nhiên mà có. Đấy là kết quả nêu gương, nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống và đặc biệt là phải rèn luyện bền bỉ, hằng ngày, rèn luyện suốt đời của Bác. Để học và làm theo Bác hiệu quả, cùng với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách, cũng cần phải nắm chắc và làm theo nguyên tắc, phương pháp rèn luyện đạo đức, phong cách của Người. Điều này là hết sức quan trọng tránh tình trạng học và làm Bác kiểu phong trào.

Trong việc rèn luyện đạo đức, tác phong, Người không chỉ nêu lên những nội dung của việc tu dưỡng để có đạo đức, tác phong cách mạng mà Người còn chỉ rõ những nguyên tắc trong rèn luyện. Muốn có đạo đức, tác phong cách mạng, trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương. Việc nêu gương phải được thực hiện trong mọi lĩnh vực, mọi bối cảnh. Trong gia đình, đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước đó là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác… 

Cùng với nêu gương, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải rèn luyện tinh thần “xây đi đôi với chống”, “muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây”. Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới phải đồng thời chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó, lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm “xây” gì, “chống” gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Cùng với hai nguyên tắc nêu trên, việc học và làm theo phải được tiến hành thường xuyên, suốt đời. Hôm nay làm tốt, ngày mai và ngày kia cùng nhiều ngày sau vẫn phải rèn rũa, giữ gìn để làm tốt hơn. Theo Bác, mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hằng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Và việc rèn luyện này phải thường xuyên và ở mọi môi trường, được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế. Có rèn luyện công phu theo các nguyên tắc trên đây thì con người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, những phẩm chất ấy sẽ ngày càng được bồi đắp và nâng cao.

Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta, Nhân dân ta. Điều quan trọng và cũng là trách nhiệm của thế hệ hôm nay là phải thiết thực, trách nhiệm và sáng tạo trong hành động để tài sản vô giá ấy tiếp tục sinh sôi, lan tỏa và thấm sâu vào đời sống của mỗi một cá nhân, mỗi một địa phương đơn vị. Làm tốt điều này sẽ là động lực để bàn tay chúng ta chạm gần hơn tới mục tiêu đưa đất nước thành một quốc gia phồn vinh hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh bằng các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ"./. 

                                                                                Ban Biên tập             

CHI BỘ THÔN NGUYÊN TRUNG (THIỆU NGUYÊN)          

      HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC,  PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Khắc sâu lời dạy của Bác, những năm qua, chi bộ thôn Nguyên Trung (Đảng bộ xã Thiệu Nguyên) luôn phát huy truyền thống đoàn kết, đã lãnh đạo Nhân dân đạt được nhiều kết quả cao trong thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Thôn Nguyên Trung có diện tích tự nhiên 43ha, với 232 hộ, 910 nhân khẩu. Chi bộ đảng có 18 đảng viên. Để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đạt kết quả cao, chi bộ luôn chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong sinh hoạt chi bộ, đã phát huy dân chủ, ý thức tự phê bình và phê bình; quan tâm công tác xây dựng đảng, chú trọng tạo nguồn, phát triển đảng viên mới. Trong các buổi sinh hoạt và quá trình lãnh đạo, chi bộ luôn đưa nội dung thực hiện Chỉ thị 05 về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào thi đua phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nông thôn mới, vì vậy, trong 5 năm qua, thôn Nguyên Trung luôn là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.

Xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, căn cứ nghị quyết của đảng ủy, sự chỉ đạo điều hành của UBND xã, chi bộ luôn tích cực lãnh đạo Nhân dân có kế hoạch, biện pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa các loại giống lúa có năng suất, hiệu quả kinh tế cao, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa… Kết quả thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 26 triệu đồng đến nay đạt 46 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo giảm còn 05 hộ.

Song song với công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, chi

 bộ đã lãnh đạo Nhân dân nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết xây dựng Nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư. Đã tích cực vận động Nhân dân đóng góp ngày công, kinh phí đầu tư xây dựng đường bê tông, nhà văn hóa thôn đạt chuẩn. Công tác VSMT-VSATTP được đảm bảo, hàng tuần có đội quét dọn, thu gom rác thải tập kết về nơi quy định. Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao trong thôn được tổ chức thường xuyên, thu hút được đông đảo Nhân dân tham gia. Trong 5 năm qua, tỷ lệ gia đình văn hóa hằng năm luôn đạt 95% trở lên. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, theo hướng lành mạnh, tiết kiệm, trang trọng, đảm bảo an toàn, phòng chống dịch Covid-19. Công tác khuyến học, khuyến tài của thôn và các dòng họ được phát huy. Đặc biệt, từ năm 2016 đến năm 2020, đã huy động sự đóng góp nguồn lực, kinh phí của Nhân dân và bà con xa quê để xây dựng kết cấu hạ tầng trong thôn đạt kết quả cao, như: Chỉnh trang, nâng cấp khuôn viên Nhà văn hóa, đường giao thông, đèn trang trí, thắp sáng các trục đường, các công trình phúc lợi công cộng, các hạng mục tiêu chí thôn Nông thôn mới v.v… Với kinh phí huy động gần 600 triệu đồng. Kết quả, năm 2020, thôn đã hoàn thành 14 tiêu chí và được Chủ tịch UBND huyện quyết định công nhận là thôn NTM.

Tình hình an ninh trật tự trong thôn luôn được bảo đảm, thời gian 5 năm qua, thôn Nguyên Trung không có các vụ việc vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, đạt tiêu chí an toàn về an ninh trật tự. Các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống đã được Ban Công tác mặt trận, Tổ An ninh trật tự, Tổ Dân vận và các Chi hội đoàn thể tham gia động viên, hòa giải kịp thời, giữ vững được sự ổn định tình hình chính trị, giữ vững sự đoàn kết trong Nhân dân; Nhân dân trong thôn phấn khởi, tin tưởng, đồng thuận cao vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền.

Từ những thành tích, kết quả đã đạt được nêu trên, liên tục từ năm 2016 đến năm 2020, chi bộ luôn được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được Đảng ủy xã, cấp trên khen thưởng. Đặc biệt, tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, chi bộ thôn Nguyên Trung đã được Chủ tịch UBND huyện tặng “Giấy khen” vì đã có nhiều thành tích trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giai đoạn 2016-2020./.

Nguyễn Thị Hà

Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

MỘT SỐ NỘI DUNG, NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG TRONG CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN, GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ NĂM 2022

Trong những năm qua, Ban Chỉ huy Quân huyện đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, MTTQ, đoàn thể trong huyện để tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện ban hành các văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyển quân. Tham mưu cho Hội đồng NVQS xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ sát với tình hình thực tế và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của từng xã, thị trấn. Thường xuyên chủ động làm tốt vai trò tham mưu giúp HĐNVQS huyện chỉ đạo, đôn đốc công tác tuyển quân, bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng và đúng Luật. Kết quả nhiều năm qua, Thiệu Hóa luôn hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân theo kế hoạch được giao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích nêu trên, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ còn bộc lộ những bất cập, hạn chế cả về nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành, nhất là trong thời điểm dư luận về tình hình hình tư tưởng, việc chấp hành kỷ luật, pháp luật trong quân đội, diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19, những tác động của mặt trái cơ chế thị trường v.v...

Để tiếp tục phát huy kết quả, thành tích đã đạt được, khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ những năm qua, hoàn thành tốt chỉ tiêu tuyển quân năm 2022, đề nghị cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể trong huyện cần làm tốt một số nội dung sau đây:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương trong công tác tuyển quân.

Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tập trung vào thời điểm trước và trong các đợt sơ, khám tuyển, gọi thanh niên nhập ngũ, tuyên truyền giáo dục rộng khắp cho toàn dân nhằm tạo khí thế sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng.

Công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho các cấp, các ngành và người dân hiểu rõ về quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đường lối xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tuyên truyền, giáo dục về truyền thống quê hương, đất nước, bản chất truyền thống tốt đẹp của Quân đội, nhất là phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Đây là việc làm thường xuyên, liên tục rộng khắp gắn trách nhiệm của các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ công tác tuyển quân hằng năm, khắc phục biểu hiện buông lỏng, xem nhẹ, ỷ lại, khoán trắng cho cơ quan quân sự các cấp, thực tế ở địa phương nào phát huy tốt được vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục thì công tác tuyển quân đạt chất lượng, hiệu quả và ngược lại.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, vai trò tham mưu của cơ quan chức năng trong tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ.

Các ban, ngành đoàn thể của huyện, xã  thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Huyện ủy, Đảng ủy các xã, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp tiến hành công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, trong đó cần giữ vững vai trò lãnh đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương và vai trò của các cơ quan, đoàn thể, nhất là Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, Ban CHQS huyện, Ban CHQS các xã, thị trấn, trước hết cần nhận thức sâu sắc về quyền hạn, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, trên cơ sở quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch của cấp trên về công tác tuyển quân, chỉ tiêu trên giao và đặc điểm tình hình của địa phương để đề ra chủ trương biện pháp lãnh đạo sát đúng, hiệu quả.

Ban CHQS huyện, xã, thị trấn thực hiện tốt chức năng tham mưu đắc lực cho huyện, xã, thị trấn trong thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, trước hết cần nắm vững ý định của cấp trên, tình hình thực tế của địa phương, tham mưu cho Huyện ủy ban hành Chỉ thị, UBND huyện ban hành Kế hoạch công tác tuyển quân, tham mưu kiện toàn Hội đồng nghĩa vụ Quân sự.

Ba là, công tác chính trị tư tưởng phải bám sát tình hình, nhiệm vụ của địa phương, tích cực đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp.

Công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ thực chất là công tác vận động quần chúng ở địa phương, nhằm thu hút, động viên mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Công tác chính trị, tư tưởng phải phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, nhất là đặc điểm của thanh niên để tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp, trong đó cần tập trung các hình thức biện pháp đa dạng, như: Tuyên truyền qua hệ thống đài truyền thanh huyện và cơ sở, thông qua sinh hoạt các tổ chức chính trị, xã hội, thực hiện tốt phong trào thi đua của cơ sở phát động, thông qua công tác giáo dục chính trị, pháp luật, sinh hoạt chi trả phụ cấp trách nhiệm của lực lượng DQTV, DBĐV, công tác giáo dục QP-AN cho các đối tượng, phát huy vai trò của các đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên dư luận xã hội để đấu tranh, vạch trần những tư tưởng, quan điểm sai trái, phát hiện, ngăn chặn đấu tranh với những dư luận tiêu cực, luận điệu xuyên tạc phản động của các thế lực thù địch, đồng thời nêu gương những người tốt, việc tốt trong thực hiện nghiệm vụ tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ./.

Thiếu tá Nguyễn Minh Tuấn

BCHQS huyện Thiệu Hóa

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

CHÙA VĨNH PHÚC XÃ THIỆU NGUYÊN

Vĩnh Phúc là tên chữ mà Nhân dân dùng để gọi chùa. Theo nghĩa Hán Việt thì Vĩnh có nghĩa là lâu dài, mãi mãi; Phúc tức là chỉ sự tốt lành. Như vậy Vĩnh Phúc có nghĩa muốn nói điều tốt lành tồn tại mãi mãi. Đây là tên gọi duy nhất mà Nhân dân dùng để gọi di tích từ xưa đến nay.

Về việc xây dựng chùa, đến nay không tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép cụ thể và chính xác. Tuy nhiên, theo Vĩnh Phúc tự bi ký cho biết, chùa được xây dựng ở một nơi “thoáng đãng mà đẹp đẽ” thuộc phía Đông núi Trinh Sơn là nơi Sơn Lăng của vua Lê Ý Tông. Chùa có ba miếu thổ thần, đều dùng để thờ cúng. Mặc dù văn bia không ghi chép chùa được xây dựng từ năm nào cũng như tại sao phải di chuyển đến vị trí ngày nay nhưng cho chúng ta biết, đến năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844), chùa vẫn còn tọa lạc ở vị trí cũ, sau này chùa mới được di chuyển đến vị trí hiện tại nhưng nơi này không có ba ngôi miếu thổ thần. Vào mùa xuân năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844), chùa được một vị quan lấy vợ là người trong bản ấp và Nhân dân phát tâm cung tiến gỗ trùng tu, do lâu ngày chùa đã gần sụp đổ. Cùng với sự giúp đỡ của binh lính trong bản ấp đúc một quả chuông lớn. Qua sự kiện này, chúng ta biết chắc chắn chùa được xây dựng trước năm 1844 rất lâu nên mới bị hư hỏng, xuống cấp nặng và phải trùng tu lại.

Văn bia chép như sau: “Xã Phù Nguyên, huyện Thụy Nguyên xưa là ấp Trinh Sơn, huyện Lương Giang, được khai mở từ triều Lê. Ban đầu được tặng cho tên là Phù Lê, sau đổi thành Lê Vi. Nguyên ấp ấy có một núi đất gọi là Trinh Sơn, sơn lăng vua Lê Ý Tông đặt tại đó. Ở phía Đông núi có chùa gọi là chùa Vĩnh Phúc, từ xưa đã là một danh lam. Tương truyền trên núi thoáng đãng mà đẹp đẽ, vì thế đã chọn nơi đây để dựng chùa. Dấu tích xưa, sương mờ khói tỏ cho nên không thể không yêu kính.

Gần đây có một quý quan lấy người bản ấp, phát tâm cung tiến gỗ trùng tu. Vì lâu ngày (chùa) đã gần sụp đổ, cả ấp bàn bạc cùng chung sức trùng tu. Quyên góp thêm của cải của khách thập phương, cộng thêm sự giúp đỡ của binh lính trong ấp đã phục đúc một quả chuông lớn để thể hiện sự đồng lòng của mọi người.

Vào mùa xuân năm Ất Tỵ, bắt đầu tiến hành, trải đến mùa hạ công việc hoàn thành. Chùa có ba miếu Thổ thần, tất cả đều dùng làm nơi thờ cúng, đã được sửa chữa, trùng tu và đúc được quả chuông lớn, âm thanh vang khắp huyện hạt, tạo nên âm hưởng to lớn ở nơi cổ tích, càng làm cho danh thắng thêm tươi đẹp, tráng lệ. Người trong ấp vui mừng vì công việc dã được hoàn thành, nhân đó lập bia để ghi chép sự việc...”. Bia dựng vào ngày tốt cuối Thu năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844)...

Từ những nguồn tài liệu nêu trên, chúng ta biết đây là một ngôi chùa cổ có từ rất lâu đời và được xây dựng ở một nơi có địa thế, cảnh sắc thiên nhiên đẹp nổi tiếng lúc bấy giờ: đó là nơi có núi, có sông, thật xứng đáng là một thắng tích không thể không yêu mến. Không chỉ vậy, qua ghi chép trên bia về việc Nhân dân, phật tử thập phương cung tiến để trùng tu lại chùa khắp từ miền Bắc trở vào đến miền Trung cho thấy được sự nổi tiếng của chùa lan rộng khắp nơi.

Di tích chùa Vĩnh Phúc không chỉ liên quan đến sinh hoạt tôn giáo của Nhân dân thôn Nguyên Thành xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa mà ở đây còn lưu giữ những nét đẹp về văn hóa truyền thống làng xã của người Việt ngày xưa để lại. Đặc biệt, vị trí chùa tọa lạc là nơi có địa thế của một danh lam thắng cảnh như văn bia chùa đã ghi chép lại cho thấy, chùa Vĩnh Phúc có giá trị nhiều mặt. Việc tổ chức lễ hội và sinh hoạt tôn giáo của Nhân dân nơi đây hằng năm, thường vào các dịp lễ, tết, ngày Rằm, mồng Một. Đặc biệt, vào các ngày 15 tháng 4 (Phật Đản) và 15 tháng 7 Âm lịch (lễ Vu Lan báo hiếu), Nhân dân, phật tử xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa nói riêng và khách thập phương gần xa đều đến di tích thành kính dâng hương lễ Phật long trọng với mong muốn cầu cho gia đình ấm no, hạnh phúc, cuộc sống thanh bình, an lạc. Truyền thống này đã ăn sâu vào tâm thức của Nhân dân thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên nói riêng cũng như Nhân dân và phật tử quanh vùng.

Ngoài ra, chùa Vĩnh Phúc còn được bảo tồn một kiến trúc mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Thành tựu đó đánh dấu khả năng lao động, sáng tạo của người xưa trong quá trình xây dựng và phát triển làng xã trên mảnh đất Thiệu Nguyên nói riêng và đất nước ta nói chung. Những mảng chạm khắc trên kiến trúc... là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh tư duy thẩm mỹ của người đương thời, giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu để tìm hiểu thêm về truyền thống mỹ thuật dân tộc ở một địa phương, đồng thời làm cơ sở phục vụ trong việc tu bổ, tôn tạo di tích này. Đặc biệt, tấm bia đá lưu giữ tại chùa là nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu về sự phát triển tín ngưỡng Phật giáo ở vùng đất này cũng như quá trình xây dựng và phát triển quê hương Phù Nguyên thời Nguyễn trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chùa Vĩnh Phúc hiện đang được chính quyền, nhân dân địa phương bảo quản và phát huy tốt các giá trị. Những năm gần đây, do được sự quan tâm của bà con nhân dân, các phật tử, đặc biệt là chính quyền địa phương, từng bước di tích chùa Vĩnh Phúc đã được trùng tu, tôn tạo ngày một khang trang, bề thế, đáp ứng nguyện vọng của bà con nhân dân và các tín đồ phật tử, Nhân dân đến viếng thăm và lễ Phật ở di tích ngày một đông. Các hạng mục như: chùa chính, sân, khuôn viên của chùa Vĩnh Phúc mặc dù đang được chính quyền địa phương, Nhân dân bảo vệ và phát huy tốt các giá trị nhưng do trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử nên một các hạng mục công trình này hiện vẫn chưa được tu bổ, tôn tạo lại theo đúng diện mạo vốn có của chùa xưa. Không gian sinh hoạt, diện tích ngôi chùa bị thu hẹp không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát huy giá trị di tích. Do đó, trong những năm tiếp theo, để di tích được phát huy tốt các giá trị cũng như góp phần trả lại diện mạo vốn có của chùa xưa; chính quyền địa phương, cùng với Nhân dân, khách thập phương cần có phương án tiến hành khảo sát lập hồ sơ quy hoạch, tu bổ, tôn tạo lại, nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị di tích và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của Nhân dân và khách thập phương.

                                                          Trần Ngọc Tùng

                                             Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung

                 

  Lời ru của Thầy

                    

        Mỗi nghề có một lời ru
Dở hay thầy cũng chọn ru khúc này
       Lời ru của gió màu mây
Con sông của mẹ đường cày của cha
       Bắt đầu cái tuổi lên ba
Thầy ru điệp khúc quê nhà cho em
       Yêu rồi cũng nhớ yêu thêm
Tình yêu chẳng có bậc thềm cuối đâu!
       Thầy không ru đủ nghìn câu
Biết con chữ cũng đứng sau cuộc đời
       Tuổi thơ em có một thời
Ước mơ thì rộng như trời, ngàn năm
       Như ru ánh lửa trong hồn
Cái hoa trong lá, cái mầm trong cây
       Thầy ru hết cả mê say
Mong cho trọn ước mơ đầy của em.
       Mẹ ru em ngủ tròn đêm
Thầy ru khi mặt trời lên mỗi ngày
       Trong em hạt chữ xếp dày
Đừng quên mẹ vẫn lo gầy hạt cơm
       Từ trong vòm mát ngôi trường
Xin lời ru được dẫn đường em đi
        (Con đường thầy ngỡ đôi khi
Tuổi thơ lăn một vòng bi tới rồi!)
       Hẳn là thầy cũng già thôi
Hóa thân vào mỗi cuộc đời các em
       Thì dù phấn trắng bảng đen
Hành trang ấy đủ thầy đem theo mình

                                                                   Đoàn Vị Thượng

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 11.2021(02/12/2021 10:20 CH)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 10 NĂM 2021(28/10/2021 10:17 SA)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 9 NĂM 2021(30/09/2021 8:53 SA)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 8 NĂM 2021(27/08/2021 5:47 CH)

    Bản tin nội bộ tháng 7 năm 2021(21/07/2021 2:57 CH)