Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Huyện Thiệu Hóa

BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 5.2022

Đăng ngày 03 - 06 - 2022
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

 

 “TRÍCH” HƯỚNG DẪN SỐ 29-HD/BTGHU NGÀY 22/4/2022 CỦA BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY VỀ TỔ CHỨC ĐỢT SINH HOẠT CHÍNH TRỊ VỀ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 

Thực hiện Kế hoạch số 49-KH/TU, ngày 14/01/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” (sau đây gọi là Kết luận số 21); Hướng dẫn số 41-HD/BTGTU, ngày 15/4/2022 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy về việc Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Ngày 22/4/2022, Ban Tuyên giáo Huyện ủy ban hành Hướng dẫn số 29-HD/BTGHU về hướng dẫn tổ chức đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong toàn đảng bộ huyện, Bản tin nội bộ huyện trích một số nội dung của Hướng dẫn cụ thể như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm chính trị, tinh thần tự giác, gương mẫu của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên về tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong tình hình hiện nay; triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 21, các quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII, của Tỉnh ủy, của Huyện ủy và cấp ủy cơ sở.

- Tạo bước chuyển biến sâu sắc, rộng rãi trong nhận thức và hành động; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; khắc phục triệt để bệnh hình thức; người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, địa phương, cơ quan, đơn vị gương mẫu thực hiện trước. Thể hiện tinh thần nghiêm túc và quyết tâm cao của toàn đảng bộ và hệ thống chính trị trong huyện.

- Việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải được tiến hành khẩn trương (đảm bảo tiến độ), nghiêm túc, chất lượng, phù hợp tình hình thực tế; kế thừa kết quả, kinh nghiệm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của cơ sở, cơ quan, đơn vị trong thời gian qua. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về tổ chức đợt sinh hoạt chính trị.

- Gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện hình thức, chiếu lệ.

II. TỔ CHỨC ĐỢT SINH HOẠT CHÍNH TRỊ

1. Nội dung đợt sinh hoạt chính trị:

Đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được triển khai sâu rộng từ huyện đến cơ sở với chủ đề “Tự soi, tự sửa”, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

1.1. Quán triệt quan điểm của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được đề ra trong các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, nhất là từ Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (năm 1992), Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (năm 1999), các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và khóa XIII.

1.2. Quán triệt, thảo luận, làm rõ những nội dung mới của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII):

- Sâu rộng hơn về nội dung tư tưởng chỉ đạo và phạm vi: Quy mô xây dựng, chỉnh đốn Đảng được mở rộng, không chỉ trong Đảng mà cả hệ thống chính trị; không chỉ đối với đảng viên, các cấp uỷ và tổ chức đảng mà còn mở rộng ra cả đối với cán bộ, công chức, viên chức, các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị, nhất là ở các cơ quan thực thi pháp luật, những đối tượng có chức, có quyền, những nơi có liên quan đến đặc quyền, đặc lợi, kể cả các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

- Mục tiêu được xác định lần này cao hơn, sát thực và phù hợp hơn với tình hình mới: Không chỉ ngăn chặn, đẩy lùi mà phải đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - nguồn gốc của tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa "xây" và "chống", trong đó xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách.

- Bổ sung, làm rõ, đồng bộ và sắc bén hơn một số nhiệm vụ, biện pháp trong thời gian tới về công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, bổ sung, nhấn mạnh nhóm nhiệm vụ, giải pháp về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

1.3. Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; các quy định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII như: Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 24-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định sô 41-QĐ/TW, ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05- CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

1.4. Đặt việc thực hiện Kết luận, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tổng thể thực hiện các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại,... chứ không phải "đóng cửa" để chỉnh đốn Đảng.

1.5. Phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong tổ chức đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; triển khai thực hiện Kết luận, Quy định trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực do mình phụ trách.

2. Đối tượng tham gia thực hiện đợt sinh hoạt chính trị:

Cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và cán bộ, đảng viên trong toàn đảng bộ huyện.

3. Hình thức tổ chức:

3.1. Tổ chức các hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình:

- Cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp chỉ đạo đưa nội dung các kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII và những nội dung được nghiên cứu, học tập, quán triệt vào sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ, cơ quan, đơn vị... để thảo luận, kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đề ra nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện thật tốt, đạt kết quả thiết thực.

- Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước; căn cứ vào các kết luận và quy định của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, gia đình mình, đơn vị mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình; không đứng ngoài cuộc, coi như mình vô can.

- Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang và lợi dụng dịp này để "đấu đá", "hạ bệ" nhau với nhũng động cơ không trong sáng.

- Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và lợi dụng vu cáo người khác. Giữ vững nguyên tắc của Đảng, thật sự phát huy dân chủ trong Đảng; cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn.

- Tự phê bình và phê bình trên tinh thần tự giác, trách nhiệm cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự, phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình. Đây cũng là cơ sở để đánh giá, xem xét, quy hoạch cán bộ cho thời gian tới.

3.2. Tổ chức tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận hoặc hội thảo, tọa đàm khoa học về chủ đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị:

Tùy vào điều kiện cụ thể, các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo hoặc đặt hàng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học về chủ đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương, đơn vị, tập trung vào các nội dung:

- Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

- Quan điểm chỉ đạo, những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá để đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong thực tiễn ở địa phương, đơn vị.

- Đề xuất, kiến nghị những nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian tới.

4. Thời gian tổ chức đợt sinh hoạt chính trị:

 Trong các kỳ sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cơ quan, đơn vị hằng tháng. Tập trung cao điểm vào dịp: Kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022); kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện  (10/7/1930 - 10/7/2022); kiểm điểm 6 tháng đầu năm và kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tồ chức đảng, đảng viên cuối năm 2022.

5. Chế độ báo cáo:

Sau mỗi đợt chỉ đạo tổ chức sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các cấp ủy tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Huyện ủy để tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc:

- Căn cứ Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Huyện ủy, tham mưu với cấp ủy xây dựng Kế hoạch, Hướng dẫn tổ chức đợt sinh hoạt chính trị hiệu quả, thực chất, an toàn.

- Tham mưu cấp ủy xây dựng Báo cáo kết quả các đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vào cuối Quý II và cuối Quý IV năm 2022 gửi về Ban Tuyên giáo Huyện ủy để tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

2. Các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng trực thuộc:

- Chỉ đạo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, nghiêm túc, tạo bước chuyển biến thực sự ở địa phương, cơ quan, đơn vị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thông chính trị; tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị.

- Đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả đợt sinh hoạt chính trị. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, đề án của địa phương, cơ quan, đơn vị mình để thực hiện Kết luận số 21 và Kế hoạch số 03-KH/TW của Bộ Chính trị.

3. Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch:

Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức tuyên truyền sâu rộng Quy định, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII). Mở chuyên trang, chuyên mục, xây dựng phóng sự, tin bài, kịp thời phản ánh đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị có hiệu quả ở cơ sở, cơ quan, đơn vị; tăng cường tuyên truyền các điền hình, nhân tố mới, người tốt việc tốt trong các phong trào thi đua và đợt sinh hoạt chính trị trên địa bàn huyện./.

                                                                  Ban Biên tập

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

 

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ THÁNG 5 NĂM 2022

 

Tình hình kinh tế - xã hội

- Sản xuất nông nghiệp: Đến ngày 23/5/2022 toàn huyện thu hoạch ước được 1000ha lúa đạt 12,6% tổng diện tích, dự kiến năng suất lần 1 đạt từ 70-71 tạ/ha; chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để tổ chức sản xuất vụ Thu mùa 2022. Duy trì chăn nuôi, từng bước tái đàn lợn, hướng dẫn về chăn nuôi an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Kiểm tra công tác triển khai Phương án và tổ chức tập huấn Phòng chống thiên tai năm 2022.

- Công tác xây dựng nông thôn mới: Thẩm định công nhận 03 thôn NTM của xã Thiệu Quang; đôn đốc, hướng dẫn các thôn hoàn thiện các tiêu chí xây dựng thôn NTM kiểu mẫu theo kế hoạch. Tổ chức đánh giá, xếp hạng cho 7 sản phẩm OCOP cấp huyện (trong đó có 3 sản phẩm đạt 4 sao và 4 sản phẩm đạt 3 sao); đồng thời hướng dẫn các chủ thể hoàn thiện hồ sơ để trình Hội đồng OCOP cấp tỉnh đánh giá trong thời gian tới.

- Sản xuất công nghiệp - xây dựng và dịch vụ thương mại: Giá trị sản xuất ước đạt 210,4 tỷ đồng, tăng 16,9% so với CK. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư; đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị thực hiện các dự án trọng điểm; đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thiện các công trình, dự án trên địa bàn huyện. Hoàn chỉnh các thủ tục, trình UBND tỉnh Đề án sáp nhập xã Thiệu Phú vào thị trấn Thiệu Hóa; thành lập thị trấn Hậu Hiền và trình phê duyệt 04 chương trình đề án phát triển đô thị; lập quy hoạch chi tiết xây dựng khu định cư cho đồng bào sinh sống trên sông chưa có đất ở và khu dân cư mới Đồng Sau Cách, thôn Lam Đạt, xã Thiệu Vũ. Trong tháng thành lập mới 03 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp 5 tháng đầu năm lên 19 doanh nghiệp (đạt 34,5% KH). Đến nay, vốn đầu tư công từ ngân sách tỉnh quản lý với KH vốn được giao: 91 tỷ đồng, ước giải ngân: 7,61 tỷ đồng, đạt 8%; vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư KH vốn được tỉnh giao: 102,9 tỷ đồng, ước giải ngân: 15,1 tỷ đồng, đạt 14,7%; vốn đầu tư ngân sách huyện dự toán giao 317,9 tỷ đồng, ước thực hiện giải ngân 57 tỷ đồng, đạt 17,9%; vốn đầu tư ngân sách xã dự toán giao 75 tỷ đồng, ước thực hiện giải ngân 37,13 tỷ đồng, đạt 50%.

- Công tác thu, chi ngân sách và quản lý tài nguyên, môi trường: Thu ngân sách tháng 05 là 41,82 tỷ đồng, lũy kế 5 tháng 232,1 tỷ đồng, đạt 67% dự toán huyện giao; đạt 102% dự toán tỉnh giao. chi ngân sách địa phương cơ bản đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông trên địa bàn, từng bước chấn chỉnh, siết chặt các biện pháp quản lý về khai thác cát. Tiếp tục thực hiện tốt công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và giải quyết tồn đọng đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 56 giấy. Chỉ đạo giải quyết đơn thư công dân liên quan đến đất đai tại xã Thiệu Công, Thiệu Thành. Công tác giải phóng mặt bằng các dự án Nhà nước thu hồi đất được chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên tổ chức giao ban về tiến độ thực hiện, đến nay tiến độ GPMB các dự án trên địa bàn cơ bản đảm bảo theo kế hoạch đề ra. Tổ chức đấu giá 177 lô đất tại xã Thiệu Giao, Thiệu Quang và thị trấn Thiệu Hóa, tổng nguồn thu từ đấu giá đất đạt 222 tỷ đồng; hoàn thiện thủ tục để triển khai đấu giá 80 lô đất tại mặt bằng Đông Thiệu Đô để đấu giá trong đầu tháng 6 tới.

- Lĩnh vực Giáo dục và đào tạo: Tập trung chỉ đạo các nhà trường trong toàn huyện thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ theo kế hoạch của ngành; chỉ đạo xây dựng kế hoạch và triển khai các chuyên đề về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đặc biệt là phòng tránh tai nạn, thương tích và phòng chống đuối nước tại các trường.

- Lĩnh vực Văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Tập trung tuyên truyền các sự kiện, các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh và của huyện: 47 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 68 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh... phục dựng trò diễn "Múa đèn xếp chữ, hát chèo chải cổ" làng Nhân Cao xã Thiệu Quang là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.

- Lĩnh vực y tế tập trung  chỉ đạo các cơ sở y tế thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân. Đến nay tình hình dịch trên địa bàn huyện được kiểm soát ổn định; quan tâm chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện và tổ chức tốt việc tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi.

- Lĩnh vực Lao động - TBXH: Rà soát, bổ sung hộ nghèo, đề nghị cấp đất và làm nhà ở cho 54 hộ sinh sống trên sông. Tổ chức thực hiện khám, phẫu thuật và điều trị miễn phí cho trẻ em khuyết tật về vận động có nhu cầu phẫu thuật năm 2022.

Tình hình công tác quốc phòng - an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện ổn định. Tổ chức Hội thi trung đội dân quân cơ động cấp huyện; chuẩn bị các điều kiện cần thiết tổ chức diễn tập phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

 Trong tháng, lực lượng Công an đã phát hiện, xử lý 13 vụ việc, tăng 06 vụ so với CK; xử lý 92 trường hợp vi phạm trật tự ATGT. Triển khai đăng ký xe, cấp biển số xe cho người dân trên địa bàn huyện từ ngày 21/5/2022.

Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể

- Công tác chính trị tư tưởng: Tổ chức hội nghị học tập quán triệt, triển khai nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Trung ương và các hướng dẫn, kế hoạch của Tỉnh ủy. Chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn; ban hành Quy chế hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng bộ huyện khóa XX, nhiệm kỳ 2020-2025. Chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện đề cương chi tiết cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện (1930-2020).

- Công tác tổ chức, cán bộ: Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo tổ chức rà soát, xử lý sai phạm trong công tác cán bộ theo Kết luận số 48-KL/TW, Kết luận số 71-KL/TW của Ban Bí thư. Lãnh đạo tổ chức thành công Đại hội Đoàn thanh niên; Đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp nhiệm kỳ 2022-2027 cấp cơ sở. Tổ chức cho cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đã nghỉ hưu đi nghỉ dưỡng tại Sầm Sơn theo kế hoạch; tổ chức Lễ tang đồng chí Nguyễn Đình Đoài - nguyên Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện đảm bảo trang trọng, chu đáo. Chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trao Huy hiệu Đảng cho 157 đảng viên, kết nạp đảng cho 40 quần chúng ưu tú vào Đảng đợt 19/5/2022. Thông báo nội dung gợi ý kiểm điểm trách nhiệm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thiệu Vũ; ban hành quy định về rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, xây dựng quy hoạch định hướng 2025-2030.

- Công tác kiểm tra, giám sát: Thông báo kết luận kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU của BCH Đảng bộ Tỉnh khóa XVIII về tích tụ tập trung đất đai... tại đảng ủy xã Thiệu Hòa và Thiệu Nguyên. Tổ chức giám sát việc triển khai thực hiện Đề án Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với 5 đảng ủy. Xem xét xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm theo thẩm quyền. Chỉ đạo kiện toàn chức danh ủy viên UBKT, Phó Chủ nhiệm UBKT đảng ủy xã Thiệu Viên. Tập trung giải quyết đơn thư, kiến nghị đảm bảo nguyên tắc, quy trình, thời gian theo quy định, giữ vững ổn định chính trị.

- Hệ thống dân vận tập trung nắm bắt tình hình Nhân dân. Triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào vận động Nhân dân tham gia hiến đất, đóng góp nâng cấp mở rộng đường giao thông nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh trên địa bàn huyện; Thông báo kết luận kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Đề án về nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo” tại xã Thiệu Quang và Hội nông dân huyện; ban hành Kế hoạch hỗ trợ nhà ở và ổn định đời sống cho đồng bào sinh sống trên sông trên địa bàn huyện Thiệu Hóa. Tổ chức thăm, chúc mừng Ban trị sự Phật giáo huyện và các chùa trên địa bàn huyện, nhân dịp Lễ Phật đản PL.2566-DL.2022. Triển khai phong trào “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế” phù hợp với từng địa phương, đơn vị.

- Hoạt động của HĐND huyện: đôn đốc các ngành giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức thành công kỳ họp thứ Bảy. Phối hợp chuẩn bị tốt các điều kiện làm việc với Đoàn giám sát của HĐND tỉnh về công tác cải cách hành chính.

- Hoạt động của UBND huyện: Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; Quản lý các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo theo quy định. Thực hiện rà soát hồ sơ công chức, viên chức trong công tác chuyển ngạch, tuyển dụng, bổ nhiệm tại các cơ quan trên địa bàn huyện. Chỉ đạo thu hoạch cây trồng vụ Chiêm Xuân; chỉ đạo công tác tiêm vác xin phòng Covid-19; đẩy nhanh tiến độ GPMB, tiến độ xây dựng các công trình, dự án; quan tâm đối thoại, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -  xã hội: Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên, Nhân dân tích cực thi đua lao động sản xuất, xây dựng NTM nâng cao, kiểu mẫu; xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP. Thường xuyên duy trì công tác tổng vệ sinh môi trường; tổ chức đăng ký, triển khai xây dựng mô hình khu dân cư “sáng - xanh - sạch - đẹp - an toàn”, tổ chức gắn biển tên đường và đánh số nhà trên địa bàn của các thôn trong huyện. Trong 5 tháng đầu năm MTTQ và các tổ chức chính trị -xã hội đã vận động Nhân dân hiến trên 5.575m2 đất (trong đó có 1.243m2 đất ở). Tiếp tục chỉ đạo xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các mô hình, các câu lạc bộ phát triển kinh tế, vệ sinh môi trường, phân loại rác thải, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát động tháng công nhân... Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên các cấp cơ bản hoàn thành công tác chỉ đạo đại hội nhiệm kỳ 2022-2027 đối với cơ sở.        

                                      Trịnh Văn Đệ

                                                 Chánh Văn phòng Huyện ủy

 

XÃ MINH TÂM PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ  CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

 

Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, xã Minh Tâm trước khi sáp nhập xã Thiệu Minh và Thiệu Tâm đều đã đạt chuẩn Nông thôn mới. Ngay sau khi sáp nhập xã Minh Tâm đã bắt tay ngay vào cũng cố, hoàn thiện các tiêu chí xã Nông thôn mới và chỉ đạo đồng loạt xây dựng các thôn đạt chuẩn Nông thôn mới.

Sau sáp nhập, xã gặp rất nhiều khó khăn về quản lý nhân lực cũng như việc huy động nguồn lực. Với quyết tâm chính trị cao, bám sát vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025, đến nay có 10/10 thôn hoàn thành 14/14 tiêu chí trong đó 01 thôn đạt thôn NTM kiểu mẫu, 03 thôn phấn đấu về đích NTM kiểu mẫu trong quý 2/2022. Có 15 tiêu chí xã NTM nâng cao, đạt 10 tiêu chí. Đảng bộ xã phấn đấu hoàn thành 15/15 tiêu chí, về đích xã Nông thôn mới nâng cao trong năm 2022.

Để sớm hoàn thành các tiêu chí của xã NTM nâng cao và thực hiện có hiệu quả kế hoạch chỉ đạo của BTV Huyện ủy về xây dựng chỉnh trang đường làng ngõ xóm sáng - xanh - sạch đẹp theo hướng văn minh, hiện đại, ngay từ đầu năm, đảng ủy xã đã gắn với nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới với các chỉ tiêu thi đua trong năm 2022; mỗi thôn chọn ít nhất 01 tuyến đường để xây dựng tuyến đường kiểu mẫu đáp ứng 03 tiêu chí: Tường rào kiểu mẫu - đường điện cao áp và nền đường đạt chuẩn.

Ngay sau khi Lễ phát động thi đua của Đảng ủy, cùng với các chính sách kích cầu hỗ trợ của cấp trên các hộ dân đầu tư tiền của và công sức bình quân mỗi hộ từ 3 - 4 triệu đồng, có nhiều hộ đầu tư 6 - 8 triệu đồng, có hộ từ 10 - 15 triệu đồng nhiều thôn đã có mô hình, cách làm hay sáng tạo. Điển hình như: Mô hình Tường rào kiểu mẫu tại thôn Đồng Minh, toàn thôn đã có 60 hộ làm hệ thống tường rào kiểu mẫu với chiều dài 1.100m. Tiêu biểu như hộ Bà Nguyễn Thị Lữ 41m, hộ ông Nguyễn Xuân Bang: 37m, hộ bà Trần Thị Đương 37m, ông Nguyễn Xuân Định 37m, Ông Nguyễn Xuân Nhuần 35m, Bà Hoàng Thị Thảnh 30m.v.v.v

Về mô hình xây dựng, nâng cấp đường giao thông, ở Thôn Thái Bình. Dựa trên cơ sở nguồn hỗ trợ kích cầu xi măng của xã, cấp ủy thôn đã lãnh đạo, triển khai vận động 18 tổ ANXH đổ lại 18 tuyến đường bê tông với hơn 900m đường làng ngõ xóm trong thôn được nâng cấp bê tông hóa khang trang, sạch đẹp. Trong quá trình làm đường bê tông, thôn đã phát huy tinh thần dân chủ "dân biết - dân làm - dân kiểm tra". Các tuyến đường đều được các tổ tự quản tự đứng ra vận động nhân dân đóng góp để làm; mỗi hộ dân đóng góp bình quân từ 2 - 3 triệu đồng; tiêu biểu có một số hộ đóng góp và kêu gọi con cháu, người thân xa quê tham gia đóng góp, như: Hộ ông Nguyễn Hữu Trang: 16 triệu; hộ ông Phạm Văn Vương 10 triệu, hộ ông Ngô Xuân Lưỡng 8 triệu, hộ ông Cao Xuân Đề 4 triệu, hộ bà Lê Thị Tú 4 triệu, đặc biệt có hộ bà Lê Thị Khoản là hộ nghèo có 1 khẩu tham gia, nhưng đã đóng góp 2 triệu làm đường. Trong quá trình làm đường giao thông, đã có 10 hộ tham gia hiến đất, nắn, mở rộng đường giao thông với tổng diện tích hơn 100 m2, tiêu biểu có hộ ông Ngô Trọng Nguyên hiến 40 m2 đất ở và tự xây lại tường rào.

Điển hình tiêu biểu về đầu tư, xây dựng đường điện cao áp công cộng tại thôn Đồng Bào, ngõ dân cư giáp ranh giữa cụm 2 và cụm 3, đã tự vận động con em thành đạt ủng hộ làm tuyến đường điện cao áp bằng năng lượng mặt trời, có chiều dài gần 300m, lắp 10 cột điện cao áp. Tiêu biểu có anh Nguyễn Tuấn Anh tài trợ 10 bộ bóng đèn cao áp trị giá 24,3 triệu đồng, hộ ông Nguyễn Văn Chung hỗ trợ thôn làm tuyến đường kiểu mẫu 30 triệu đồng... Hiện thôn đang vận động 10 hộ hiến đất mở rộng và nắn, chỉnh đường để làm tuyến đường kiểu mẫu.

Thôn Đồng Chí hiện đã vẽ 50 bức tranh tường, xây trát lại hơn 800m tường rào, xây bồn trồng 260m đường hoa trong làng, làm được 350 m tường rào kiểu mẫu; trong đó có 4 hộ hiến đất, nắn đường, tiêu biểu là hộ ông Hoàng Hữu Quân, hiện thôn đang tiếp tục vận động nhân dân hiến đất và làm tường rào kiểu mẫu.

Thôn Đồng Thanh hiện tại đã xây tuyến đường hoa có chiều dài 495m dọc kênh bắc, đang tiến hành trồng hoa, đã có tổ ANXH số 01 gồm 20 hộ do anh Trần Trọng Ngọc làm tổ trưởng, đã vận động các hộ dân trong tổ hiến đất mở rộng đường và xây tường rào kiểu mẫu, có 3 hộ hiến đất với diện tích 200 m2. Tiêu biểu là hộ ông Trần Trọng Liên hiến hơn 70 m2  đất ở; trong tổ đã kêu gọi con em xa quê  và vận động mỗi hộ đóng góp ủng hộ 5 triệu để làm hệ thống  tường rào kiểu mẫu trên toàn tuyến.

Thôn Thái Ninh hiện đã vận động 01 tổ ANXH tiến hành đổ lại đường bê tông, chiều dài 120m, làm bổ xung lề đường 300m,  xây 150m tường rào kiểu mẫu, vận động 4 hộ hiến đất với diện tích gần 40 m2,  tiêu biểu là hộ ông Lê Trọng Lộc hiến 24m2, hộ  ông Lê Trọng Quế hiến 12 m2 đất ở và đang đầu tư làm tường rào kiểu mẫu.

Thôn Thái Sơn hiện đã có 02 hộ hiến đất mở rộng đường và làm tường rào kiểu mẫu, trong đó tiêu biểu là hộ là Lê Thị Là hiến đất mở rộng đường, đặc biệt  hộ bà Lê Thị Vân là hộ chính sách đã tham gia hiến 23 m2 đất ở và xây dựng 60m tường rào kiểu mẫu.

Cùng với nhiệm vụ xây dựng thôn nông thôn mới kiểu mẫu, xã NTM nâng cao, với tinh thần tự nguyên, phấn khởi hiến đất, nắn, chỉnh mở rộng đường, xây tường rào kiểu mẫu,  toàn xã đang xúc tiến đầu tư, nâng cấp các tuyến đường, các công trình hạ tầng khu dân cư mới. Năm 2021 -2022 xã được tỉnh đầu tư dự án làm tuyến đường từ cầu Sắt đi cầu Trắng và đến Trạm y tế xã với chiều dài gần 1,5km, trị giá công trình 7 tỉ đồng. Trong quá trình làm các tuyến đường này, đã có 23 hộ dân tham gia hiến đất, mở rộng đường.

Thời gian tới, tiếp tục phát huy thành tích, kết quả đã đạt được, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, BCĐ xây dựng Nông thôn mới huyện, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Minh Tâm tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của người dân, huy động sức mạnh, nguồn lực to lớn của nhân dân trong xã và bà con xa quê, triển khai, tổ chức thực hiện thành công mục tiêu xã Nông thôn mới nâng cao, các thôn trong xã đạt tiêu chí kiểu mẫu theo kế hoạch đã đề ra.

                                                                                                                     Nguyễn Thị Hương Vân     

                Phó Bí thư Trực Đảng ủy xã Minh Tâm                              

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG,  ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM  SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

 

PHÊ PHÁN CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

Cơ sở khoa học và thực tiễn của “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”

Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng ta xác định “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây cũng là bước đột phá trong tư duy của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Ấy vậy mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị, phản động, chống đối, lại đang rêu rao, xuyên tạc rằng, đó là quan điểm duy tâm chủ quan, một khẩu hiệu trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học,... hòng thực hiện mưu đồ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta.

Chúng lý sự rằng, “khát vọng” là yếu tố tinh thần, là mặt tinh thần của đời sống xã hội; do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần và lấy nó làm cơ sở, nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên rõ ràng là một quan điểm duy tâm chủ quan; đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin (?!).

Xét bản chất, dựa trên lý luận của triết học Mác - Lê-nin về tính độc lập tương đối của ý thức và vai trò, sức mạnh to lớn của tinh thần con người, chúng ta có đủ luận cứ, luận chứng khoa học để phản bác các luận điệu sai trái, nhưng hết sức tinh vi, xảo quyệt nói trên của các thế lực thù địch. Đó là, tuy khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng các nhà kinh điển mác-xít cũng đồng thời nhấn mạnh, ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”. Đặc biệt, ý thức tiến bộ, cách mạng một khi được giáo dục, khơi dậy và phát huy đúng cách ở mỗi cá nhân sẽ trở thành sức mạnh tinh thần vĩ đại trong cải tạo xã hội. Đúng như C. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.

Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Không hiếm dân tộc hay nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, nhất là thiếu khát vọng độc lập, tự cường và phát triển. Đối với dân tộc Việt Nam, yếu tố này lại càng nổi bật và biểu hiện sinh động hơn hết. Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ngừng được đắp bồi và phát triển, tinh thần yêu nước cùng với khát vọng phát triển đất nước là những giá trị tiêu biểu, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh phi thường để dân tộc ta trường tồn và phát triển. Trong lịch sử, ông cha ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc ngoại bang, giữ vững nền độc lập dân tộc không phải chủ yếu bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà chủ yếu là bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại của sự đoàn kết, của khát vọng về chủ quyền quốc gia.

Một mặt, với những lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực đầy đủ, cùng với tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị, sự kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã rất đúng, rất trúng khi xác định một cách mạch lạc, đầy sức thuyết phục về khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó là động lực quan trọng, nguồn năng lượng nội sinh to lớn để đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển, “cất cánh” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIII hoàn toàn không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định rất rõ đây là một trong những động lực để tạo thành “hợp lực” cho đổi mới, phát triển và hội nhập; là động lực tinh thần chứ không phải động lực vật chất; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất. Do đó, trước những luận điệu cho rằng quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII là duy tâm chủ quan, mỗi người có sự hiểu biết và tỉnh táo, khách quan đều thấy rõ đó chỉ là một sự non kém về kiến thức triết học và tri thức lịch sử,... hoặc là những ý đồ chính trị hết sức tinh vi và thâm độc, một dạng của thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, vốn không được bất kỳ khoa học nào đánh giá cao.

Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần (riêng Báo cáo chính trị là khoảng 30 lần); được nhiều nhà khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách cẩn trọng, nghiêm túc, cân nhắc từng từ, từng câu, từng chữ. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”. Văn kiện có văn phong trong sáng, súc tích, giản dị, từ ngữ chắt lọc, dễ nhớ, dễ thực hiện; mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ xác đáng, nhất là những luận điểm mới như vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã, đang lớn tiếng cho rằng, đó chẳng qua chỉ là một lời hiệu triệu, một ước vọng hão huyền, vì nó chỉ có ý nghĩa hô hào, mang tính chất khẩu hiệu thuần túy, trong khi không xác định được những chủ trương, không định vị rõ lộ trình, không đề ra biện pháp cụ thể để hiện thực hóa khát vọng đó. Vì tính quy chụp, xảo ngôn đó, những luận điệu này đã thể hiện một “tư duy thiển cận”, phiến diện, siêu hình và về thực chất, chỉ là một cái nhìn đầy định kiến, “sặc mùi” cơ hội chính trị và phản khoa học.

Quyết tâm hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của dân tộc ta trong thời gian tới

Một là, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” đã được Văn kiện Đại hội XIII thể chế hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Có thể nói, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” vừa là động lực, vừa là mục tiêu chiến lược, cao đẹp, xuyên suốt và lâu dài của Đảng, của cả dân tộc ta. Tất nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó không phải là công việc giản đơn, có thể hoàn thành trong “một sớm một chiều”. Nhưng quán triệt nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, kế thừa và bổ sung cho phù hợp với những biến đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và có sự nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước; đồng thời, trên cơ sở phân tích, dự báo kỹ lưỡng những thời cơ, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong,... Văn kiện Đại hội XIII đã xác định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ được thể hiện, thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, mà còn “hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Và điều này cũng nhất quán với khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XII: Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai.

Hai là, Văn kiện Đại hội XIII đã vạch ra định hướng và xác định hệ giải pháp cơ bản để hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến xã hội mang tính toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa sự chuyển hóa về lượng và biến đổi về chất,... của hệ thống các nhân tố tham gia. Nói cách khác, đó là sự nghiệp cách mạng to lớn, mặc dù rất vẻ vang nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách, nhiều cam go, phức tạp. Vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, Văn kiện Đại hội XIII xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Bên cạnh đó, đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện đầy đủ, triệt để và thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đẩy lùi nạn tham nhũng, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đồng thời, thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước. Tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, cụ thể hóa phương thức biểu hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” - một biện pháp mang tính đột phá của Văn kiện Đại hội XIII.

Trên thực tế, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là cái gì xa vời, khó hiểu, khó định lượng, bởi Văn kiện Đại hội XIII đã cụ thể hóa thành những phương thức biểu hiện rõ ràng, gắn với yêu cầu về hành động, việc làm thiết thực của mỗi người dân Việt Nam. Trong đó, từ góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần vươn lên xóa bỏ cái “biệt danh” nước nghèo, chậm phát triển. Mặc dù công cuộc đổi mới đất nước sau hơn 35 năm của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; tuy nhiên, “dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế”. Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, khát vọng phát triển đất nước hiện nay chính là ý thức lao động hăng say và sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng của mỗi người dân; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà “trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp”.

Văn kiện Đại hội XIII và quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng bao nhiêu thì lại càng vấp phải sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch bấy nhiêu. Việc các thế lực thù địch, phản động ra sức công kích, bài bác và phủ nhận Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn và giá trị của đường lối, chủ trương mà Đảng đã hoạch định, được nhân dân kỳ vọng, tin tưởng, ủng hộ, đồng tình./.

                                                                         Ban Biên tập

 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Những chuẩn mực của đạo đức cách mạng

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ được coi là những điều quy định làm căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách của người đảng viên, để xem người đó có xứng đáng là thành viên trong đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, xứng đáng đảm nhận trọng trách với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng, những nhà tư tưởng quan tâm và bàn luận nhiều nhất vấn đề đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng. Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”. Người nêu bật những phẩm chất của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Như vậy, chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh không nằm ngoài những yêu cầu trong các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông thường, mà là sự đòi hỏi cao hơn, trách nhiệm hơn đối với cái chung và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, người đảng viên chịu không ít những tác động tiêu cực, trong đó tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với cán bộ, đảng viên chính là mặt trái của quyền lực, mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế. Cần đặc biệt lưu ý là mặt trái của quyền lực kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường, đã tạo thành một sự cộng hưởng gây nên những tiêu cực, suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên hết sức nghiêm trọng. Tình hình đó đòi hỏi chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Văn kiện XIII của Đảng nêu yêu cầu phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(4).

Phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay

Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân. Có thể đề xuất một số phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay như sau:

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị.

Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là thành viên của một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sứ mệnh đó đòi hỏi Đảng và mỗi đảng viên phải rất vững vàng, độc lập, sáng tạo trong việc đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách cũng như xây dựng nội bộ Đảng đoàn kết, vững mạnh; không dao động trước khó khăn, thử thách. Bởi vậy, bản lĩnh chính trị là phẩm chất chính trị tuyệt đối cần thiết đối với Đảng Cộng sản cũng như đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên biểu hiện ở nhiều phương diện, trong đó nổi bật là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa; sự trung thành với Tổ quốc, Đảng; sự vững vàng trước mọi tình huống, sự quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng, của giai cấp, dân tộc và nhân dân. Hồ Chí Minh căn dặn mỗi đảng viên “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, "Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới". Kiên định mục tiêu, lý tưởng, tức là vô luận lúc nào, vô luận việc gì, cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau, nếu khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng". Người phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động. “Suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân"(8) là phẩm chất cao quý của người cách mạng” - đó là “tính Đảng”, là nguyên tắc cao nhất của Đảng mà mỗi đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Đó cũng là điều kiện tiên quyết hình thành những tình cảm tốt đẹp, cao cả, nhiệt huyết cách mạng, tình cảm và ý chí cách mạng của người đảng viên không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp chung, phấn đấu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đóng góp trí tuệ, sức lực, tài năng cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm tạo cơ chế, góp phần xây dựng và tăng cường bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Hồ Chí Minh đã từng lưu ý cán bộ, đảng viên: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Công cuộc Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện là một cuộc vận động mang tính cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là một quá trình khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình định sẵn. Mặt khác, trong thời đại công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh. Từ đó, đòi hỏi Đảng Cộng sản lãnh đạo sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tiềm lực tư tưởng, khoa học mạnh mẽ ở trình độ cao của trí tuệ xã hội và thời đại, trong đó đảng viên phải là người có học thức, có năng lực trí tuệ và sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Cầu tiến bộ, ham học hỏi là phẩm chất đạo đức cách mạng rất căn bản, bởi chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt thì Đảng mới không bị lạc hậu, mới đủ sức mạnh trí tuệ để lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Phẩm chất này đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nhanh chóng nắm bắt kiến thức khoa học hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực hoạt động của mình, bắt kịp những thành tựu mới trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm. Phẩm chất này đòi hỏi mỗi người phải chống lại thái độ chây lười, ngại học tập, nâng cao trình độ, thoả mãn với vốn kiến thức đã có, coi thường khoa học, lý luận, đề cao kinh nghiệm, chống lại tình trạng cán bộ, công chức, đảng viên mà không thành thạo chuyên môn, chức trách, công việc được giao, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như sự tin tưởng của nhân dân với cán bộ, đảng viên. Xã hội càng hiện đại càng đòi hỏi trình độ kiến thức cao. Với sự nỗ lực học tập không ngừng, cán bộ, đảng viên mới có đủ khả năng lãnh đạo, quản lý xã hội phát triển.

Thứ ba, giữ vững kỷ luật Đảng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật của Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật”. Người yêu cầu “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Là đảng viên cộng sản, thì khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức Đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức. Đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân, bởi “kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”. Đối với cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, đảng viên giữ vị trí càng cao, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”. Mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình. Song, khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức. Phục tùng kỷ luật, đó là “bổn phận”, là “nghĩa vụ” của đảng viên, ngược lại “không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ của đảng viên”. Đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất đặc biệt là bệnh tham ô, tham nhũng. Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là ăn cắp của công, là nhũng nhiễu, gian lận, đục khoét nhân dân, là tham lam, là trộm cướp, cần phải kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Thứ tư, trọng dân, yêu dân, tin dân, gần dân, học dân.

Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng, học hỏi, có quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của đảng viên.

Đảng ta là đảng cầm quyền, vì vậy, nhiều cán bộ, đảng viên là những người lãnh đạo, quản lý. Cán bộ, đảng viên còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, là người tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước. Bởi vậy, có yêu dân, có tin dân, có trọng dân, đảng viên mới hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mới tích cực lắng nghe ý kiến của nhân dân, mới có thể khơi dậy và phát huy sức mạnh trí lực, nhân lực và tài lực của nhân dân. Có gần dân, đảng viên mới hiểu đời sống xã hội thực tiễn phong phú, sinh động đang diễn ra; mới nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân để đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp cũng như làm cho dân hiểu, dân tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có học hỏi dân, đảng viên mới mở mang, làm giàu thêm hiểu biết của mình bằng trí tuệ sáng tạo và kinh nghiệm phong phú của nhân dân.

Thứ năm, phòng chống chủ nghĩa cá nhân.

Ngay sau khi Đảng trở thành Ðảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước hoàn cảnh mới, người cán bộ, đảng viên rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: Chủ nghĩa cá nhân là trong bất cứ công việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết, muốn cho mọi người vì mình trước khi mình vì mọi người. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mệnh lệnh, v.v.... Từ đó, Người đặt ra nhiệm vụ “xóa sạch chủ nghĩa cá nhân” là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục trong công tác xây dựng Đảng.

Mục tiêu làm giàu bằng mọi giá, coi trọng lợi ích vật chất đã và đang trở thành cái đích hướng tới của không ít người. Do vậy, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với một số người có chức, có quyền nếu thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, họ rất dễ bị cám dỗ và sa ngã bởi lợi ích vật chất "che mắt", việc lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, tham nhũng, làm giàu bất chính dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biến chất về phẩm chất chính trị là hệ quả tất yếu. Chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phục tùng kỷ luật tập thể, biết đặt “việc công, lợi ích công” lên trên hết và trước hết, kiên quyết loại bỏ ham muốn không chính đáng, làm phương hại đến lợi ích tập thể, lợi ích của Đảng, của nhân dân và dân tộc.

Nêu cao chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là hy sinh lợi ích chính đáng của cá nhân, xóa bỏ cá tính cá nhân. Chủ nghĩa tập thể kết hợp hài hoà quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Giữ vững kỷ luật tập thể, tổ chức đồng thời tôn trọng sáng kiến cá nhân, phát triển cá tính, phát triển nhân cách và năng lực sáng tạo, đóng góp riêng của mỗi cá nhân. Làm được điều đó, mới có thể gắn bó, đoàn kết mọi người trong tổ chức và tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng./.

                                                                              Ban biên tập

 

ĐẢNG BỘ BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC

 

Trong quá trình tổ chức thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại Đảng bộ Ban Chỉ huy quân sự huyện, các đồng chí Cấp uỷ, Chính trị viên, Chỉ huy đơn vị đã phát huy tinh thần trách nhiệm, năng động, sáng tạo, bám sát đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị để cụ thể hóa việc thực hiện chỉ thị, kế hoạch của Trung ương và Thường vụ Quân uỷ Trung ương vào chương trình, kế hoạch của từng tổ chức, cá nhân, triển khai việc học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và đã đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Để các nội dung học tập đi vào chiều sâu, thật sự có hiệu quả, Đảng uỷ đã thảo luận, cụ thể hóa tiêu chuẩn gắn với tình hình, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng ngành trong cơ quan để cán bộ, đảng viên, đoàn viên xây dựng kế hoạch tự tu dưỡng đạo đức, phong cách, lối sống, bổ sung những quy định về chức trách nhiệm vụ. Trên cơ sở 05 chuẩn mực đạo đức trong toàn quân “Trung thành tuyệt đối, đoàn kết, kỷ luật, vượt khó, chiến đấu thắng lợi” và chuẩn mực mà Bộ chỉ huy quân sự tỉnh xây dựng, Đảng ủy, Ban CHQS xây dựng các chuẩn mực cụ thể phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng đối tượng, như: Chuẩn mực đối với cán bộ chủ trì, chủ chốt trong đơn vị, chuẩn mực đối với cán bộ chính trị, chuẩn mực đối với cán bộ quân sự, chuẩn mực đối với cán bộ hậu cần, kỹ thuật. Chính những tiêu chí, chuẩn mực cụ thể đó đã giúp mỗi cán bộ đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn và chuẩn mực của mình để phấn đấu học tập, rèn luyện.

Trong việc tổ chức thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ chính trị, Chỉ thị số 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đảng ủy đã đặc biệt chú ý đề cao vai trò trách nhiệm tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, coi đó là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; đồng thời đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt của chi bộ, mỗi kỳ sinh hoạt chi bộ có từ 1 đến 2 đảng viên báo cáo trước tập thể chi bộ về kết quả rèn luyện và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong kiểm điểm kết quả lãnh đạo của Đảng uỷ, chi bộ hàng tháng, cấp ủy (bí thư, phó bí thư) đều có tự nhận xét, đánh giá việc học tập và làm theo của đảng uỷ, chi bộ và từng đảng viên. Đảng viên đóng góp ý kiến phê bình, tự phê bình trước tập thể chi bộ về việc thực hiện nhiệm vụ theo chức trách và nhiệm vụ được giao, về tác phong công tác, về đạo đức lối sống, về nếp sống văn hóa, chính quy của cán bộ, đảng viên. Từ những ý kiến đóng góp phê bình, nhận xét đó, mỗi cán bộ, đảng viên đã kịp thời nhận ra khuyết điểm, hạn chế của bản thân, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và quyết tâm khắc phục, sửa chữa.

 Gắn việc triển khai học tập với thực hiện nghị quyết của cấp ủy Đảng các cấp, đặc biệt là cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các phong trào thi đua trong và ngoài Quân đội, như: Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phong trào “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, thực hiện văn hóa công sở “Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Thường xuyên khơi dậy tính tích cực, chủ động, tự giác của cán bộ, đảng viên, thực sự đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Thường xuyên nâng cao nhận thức chính trị với chuyển biến hành động của từng cá nhân theo nhiệm vụ, chức trách được giao.

Đảng uỷ đã quán triệt thực hiện nghiêm túc nghị quyết, có chương trình, nội dung hành động cụ thể cho từng chi bộ. Đảng uỷ chỉ đạo tiếp tục xây dựng Chi bộ Ban Tham mưu điểm về "Đổi mới lề lối, tác phong làm việc trong công tác quân sự địa phương, nâng cao ý thức trách nhiệm, giữ gìn mối đoàn kết, xây dựng chi bộ TSVM”; Chi bộ Ban Chính trị: Điểm về "Nói, viết và làm đúng chủ trương, nghị quyết của Đảng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên"; Chi bộ Ban Hậu cần: Điểm về "Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí". Mục tiêu các năm là “Tạo bước chuyển biến tích cực về xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chi bộ “3 tốt, 3 không”; nâng cao chất lượng hoạt động của Ban CHQS các cấp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”. Mặt khác, đảng uỷ, ban chỉ huy luôn bồi dưỡng kiến thức quân sự địa phương cho cán bộ, đảng viên trong toàn cơ quan, đặc biệt những cán bộ trẻ, những đồng chí mới từ đơn vị chủ lực chuyển về, những cán bộ, nhân viên kinh nghiệm về công tác quân sự, quốc phòng ở địa phương còn hạn chế. Do vậy, hiện nay số cán bộ trẻ trong cơ quan ngày càng trưởng thành hơn, nhiệm vụ được giao đều hoàn thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng bộ đã tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện tổ chức thành công cuộc diễn tập KVPT huyện năm 2018, làm điểm cho 7 huyện về tham quan, học tập, trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài từ 39-40 độ, địa hình đồi núi khó khăn cho công tác xây dựng công sự và luyện tập, song cán bộ, nhân viên cơ quan đã không quản khó khăn, vất vả, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm an toàn, được cấp trên ghi nhận và đánh giá cao. Tổ chức tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ từ 2016-2022 đã giao đủ 980 công dân nhập ngũ và tổ chức đón nhận 1.046 quân nhân hoàn thành nghiã vụ trở về địa phương. Thăm hỏi,tặng quà cho các gia đình chính sách, gia đình có cán bộ công tác tại Trường Sa, Nhà giàn DK1 với số tiền 6.250.000đ; phụng dưỡng Mẹ VNAH Lại Thị Gia (xã Thiệu Quang) 500.000đ/tháng; tham gia ủng hộ trẻ em khuyết tật, chất độc da cam 2.140.000đ; ủng hộ phòng chống thiên tai 18.240.000đ; quỹ vì người nghèo 9.120.000đ; ngoài ra, thực hiện Lời kêu gọi của UBMTTQ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa, đơn vị đã tham gia ủng hộ 2.500.000 đồng vào quỹ của huyện và kêu gọi quyên góp được 272 bộ quần áo cũ cùng LLVT tỉnh ủng hộ đồng bào các huyện vùng lũ phía tây của tỉnh. Hoàn thành cơ bản xét duyệt hồ sơ theo Quyết định 49/QĐ-TTg, đến nay đã tổ chức chi trả được cho 12.213 đối tượng (đạt 77,25%).

Trong thời gian qua, đảng bộ, đơn vị không có trường hợp nào vi phạm kỷ luật, không mắc vào các tệ nạn xã hội, không vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; thực hiện tốt quy định, hương ước của địa phương; 100% cán bộ, đảng viên được cấp uỷ nơi cư trú nhận xét, đánh giá: phát huy tốt vai trò đảng viên, gương mẫu, thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; gia đình cán bộ, nhân viên cơ quan đều đạt tiêu chuẩn "Gia đình văn hóa". Kết quả phân loại đảng viên hằng năm: 100% đảng viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó có từ 85 - 90% đảng viên hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ (có 15% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); 3/3 Chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, có 2/3 chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đảng bộ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Ban Thường vụ Huyện uỷ khen thưởng. Đặc biệt, năm 2021, tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, đảng bộ BCHQS huyện được Chủ tịch UBND huyện tặng “Giấy khen” vì đã có nhiều thành tích trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

                                                                                                                                                           Đỗ Thị Lan

                                                            Ban Tuyên giáo Huyện ủy

 

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

 

ÔNG NGÔ VĂN LÃM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH  GẮN VỚI  XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG

 

Về Thôn Thành Đông, Xã Thiệu Thành, khi hỏi đến gia đình Ông Ngô Văn Lãm, ai cũng biết và trầm trồ khen ngợi về mô hình chăn nuôi lợn ngoại và cách làm kinh tế của ông.

Qua trao đổi, chúng tôi được biết, năm 2014 được sự động viên, hỗ trợ của các đồng chí lãnh đạo huyện và xã Thiệu Thành, gia đình ông Lãm đã  đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi lợn ngoại với diện tích là 1ha. Sau 7 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trang trại  thường xuyên có 246 Lợn nái ngoại và 964 con lợn thịt.

Năm 2021 có nhiều khó khăn thách thức đối với gia đình ông Lê Văn Lãm, do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19; đặc biệt là năm dịch tả Châu Phi trên đàn lợn bùng phát. Bên cạnh đó, thức ăn chăn nuôi và xăng dầu tăng cao, giá lợn hơi ở những tháng cuối năm giảm mạnh so với cùng kỳ đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành chăn nuôi, nhất là các hộ trang trại. Song, được sự quan tâm động viên của các đồng chí lãnh đạo huyện cũng như lãnh đạo xã, gia đình ông luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn, tập trung thực hiện thật tốt công tác phòng, chống dịch dịch bệnh, nhất là bệnh dịch tả lợn Châu Phi, do vậy trang trại của gia đình ông không nhiễm dịch bệnh, đàn lợn ổn định và tiếp tục phát triển. Tổng doanh thu trong năm 2021 của gia đình ước đạt 10 tỷ đồng, trong đó, lợi nhuận từ chăn nuôi sau khi trừ chí phí là 2,5 tỷ đồng. Gia đình ông thường xuyên tạo công ăn, việc làm cho 5 lao động với mức lương là 7 triệu đồng/người/ tháng.

Hưởng ứng phong trào phát động thi đua xây dựng nông thôn mới của xã Thiệu Thành và thôn Thành Đông, bản thân ông Lê Văn Lãm và các thành viên trong gia đình luôn nhận thức rõ được rằng: Xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội; trong đó, người dân là chủ thể và có nghĩa vụ phải chung tay xây dựng nông thôn mới với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và thụ hưởng”. Trong đó, việc đóng góp kinh phí để đầu tư xây dựng các công trình của thôn, của xã để đạt tiêu chí nông thôn mới, như: xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn,  kênh mương nội đồng là việc làm thiết thực để phục vụ việc đi lại, lưu thông hàng hóa và phục vụ sản xuất của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Với tinh thần tự nguyện người có công góp công, người có của góp của, trong năm, gia đình ông đã tình nguyện góp vốn ủng hộ thôn, xã đầu tư xây dựng các hạng mục công trình phúc lợi ở thôn theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới, như: Hỗ trợ xóm nâng cấp, mở rộng đường bê tông với số tiền là 60 triệu đồng, đầu tư xây dựng cổng chào xóm với số tiền là 50 triệu đồng, hỗ trợ thôn đổ đất đá mở rộng tuyến đường giao thông nội đồng dài 700 mét, với tổng kinh phí là 75 triệu đồng, đóng góp kinh phí hỗ trợ thôn mua vôi để quét toàn bộ hệ thống tường rào trung tâm văn hóa và các trục đường ngõ xóm 2 triệu đồng... Ngoài ra, trong năm gia đình Ông lãm luôn tích cực ủng hộ các hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo với số tiền 3 triệu đồng. Tổng kinh phí tự nguyện đóng góp xây dựng nông thôn mới trong năm 2021 của gia đình ông là 187 triệu đồng.

Phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được trong thời gian qua, gia đình ông Lê Văn Lãm sẽ khắc phục những khó khăn, tiếp tục sản xuất kinh doanh giỏi, tích cực đóng góp nguồn lực, kinh phí góp phần cùng cán bộ, nhân dân thôn Thành Đông phấn đấu xây dựng thôn nông thôn mới kiểu mẫu năm 2022./.

                                                                                                                                                          Nguyễn Thị Hà

                                                                                                                                     Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy

 

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

 

CHÙA VĨNH PHÚC, XÃ THIỆU NGUYÊN

Vĩnh Phúc là tên chữ mà Nhân dân dùng để gọi chùa. Theo nghĩa Hán việt thì Vĩnh có nghĩa là lâu dài, mãi mãi; Phúc tức là chỉ sự tốt lành. Như vậy Vĩnh Phúc có nghĩa muốn nói điều tốt lành tồn tại mãi mãi. Đây là tên gọi duy nhất mà Nhân dân dùng để gọi di tích từ xưa đến nay.

Về việc xây dựng chùa, đến nay không tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép cụ thể và chính xác. Tuy nhiên, theo Vĩnh Phúc tự bi ký cho biết, chùa được xây dựng ở một nơi “thoáng đãng mà đẹp đẽ” thuộc phía đông núi Trinh Sơn là nơi Sơn Lăng của vua Lê Ý Tông. Chùa có ba miếu thổ thần, đều dùng để thờ cúng. Mặc dù văn bia không ghi chép chùa được xây dựng từ năm nào cũng như tại sao phải di chuyển đến vị trí ngày nay nhưng cho chúng ta biết, đến năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844), chùa vẫn còn tọa lạc ở vị trí cũ, sau này chùa mới được di chuyển đến vị trí hiện tại nhưng nơi này không có ba ngôi miếu thổ thần. Vào mùa xuân năm Ât Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844), chùa được một vị quan lấy vợ là người trong bản ấp và nhân dân phát tâm cung tiến gỗ trùng tu, do lâu ngày chùa đã gần sụp đổ. Cùng với sự giúp đỡ của binh lính trong bản ấp đúc một quả chuông lớn. Qua sự kiện này, chúng ta biết chắc chắn chùa được xây dựng trước năm 1844 rất lâu nên mới bị hư hỏng, xuống cấp nặng và phải trùng tu lại.

Văn bia chép như sau: “Xã Phù Nguyên, huyện Thụy Nguyên xưa là ấp Trinh Sơn, huyện Lương Giang, được khai mở từ triều Lê. Ban đầu được tặng cho tên là Phù Lê, sau đổi thành Lê Vi. Nguyên ấp ấy có một núi đất gọi là Trinh Sơn, sơn lăng vua Lê Ý Tông đặt tại đó. Ở phía đông núi có chùa gọi là chùa Vĩnh Phúc, từ xưa đã là một danh lam. Tương truyền trên núi thoáng đãng mà đẹp đẽ, vì thế đã chọn nơi đây để dựng chùa. Dấu tích xưa, sương mờ khói tỏ cho nên không thể không yêu kính.

Gần đây có một quý quan lấy người bản ấp, phát tâm cung tiến gỗ trùng tu. Vì lâu ngày (chùa) đã gần sụp đổ, cả ấp bàn bạc cùng chung sức trùng tu. Quyên góp thêm của cải của khách thập phương, cộng thêm sự giúp đỡ của binh lính trong ấp đã phục đúc một quả chuông lớn để thể hiện sự đồng lòng của mọi người.

Vào mùa xuân năm Ất Tỵ, bắt đầu tiến hành, trải đến mùa hạ công việc hoàn thành. Chùa có ba miếu Thổ thần, tất cả đều dùng làm nơi thờ cúng, đã được sửa chữa, trùng tu và đúc được quả chuông lớn, âm thanh vang khắp huyện hạt, tạo nên âm hưởng to lớn ở nơi cổ tích, càng làm cho danh thắng thêm tươi đẹp, tráng lệ. Người trong ấp vui mừng vì công việc dã được hoàn thành, nhân đó lập bia để ghi chép sự việc...”Bia dựng vào ngày tốt cuối Thu năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844)...

Từ những nguồn tài liệu nêu trên, chúng ta biết đây là một ngôi chùa cổ có từ rất lâu đời và được xây dựng ở một nơi có địa thế, cảnh sắc thiên nhiên đẹp nổi tiếng lúc bấy giờ: đó là nơi có núi, có sông, thật xứng đáng là một thắng tích không thể không yêu mến. Không chỉ vậy, qua ghi chép trên bia về việc Nhân dân, phật tử thập phương cung tiến để trùng tu lại chùa khắp từ miền Bắc trở vào đến miền Trung cho thấy được sự nổi tiếng của chùa lan rộng khắp nơi.

Di tích chùa Vĩnh Phúc không chỉ liên quan đến sinh hoạt tôn giáo của nhân dân thôn Nguyên Thành xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa mà ở đây còn lưu giữ những nét đẹp về văn hóa truyền thống làng xã của người Việt ngày xưa để lại. Đặc biệt, vị trí chùa tọa lạc là nơi có địa thế của một danh lam thắng cảnh như văn bia chùa đã ghi chép lại cho thấy, chùa Vĩnh Phúc có giá trị nhiều mặt. Việc tổ chức lễ hội và sinh hoạt tôn giáo của nhân dân nơi đây hằng năm, thường vào các dịp lễ, tết, ngày Rằm, mồng Một. Đặc biệt, vào các ngày 15 tháng 4 (Phật Đản) và 15 tháng 7 Âm lịch (lễ Vu Lan báo hiếu), nhân dân, phật tử xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa nói  riêng và khách thập phương gần xa đều đến di tích thành kính dâng hương lễ phật long trọng với mong muốn cầu cho gia đình ấm no, hạnh phúc, cuộc sống thanh bình, an lạc. Truyền thống này đã ăn sâu vào tâm thức của nhân dân thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên nói riêng cũng như nhân dân và phật tử quanh vùng.

Ngoài ra, chùa Vĩnh Phúc còn được bảo tồn một kiến trúc mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Thành tựu đó đánh dấu khả năng lao động, sáng tạo của người xưa trong quá trình xây dựng và phát triển làng xã trên mảnh đất Thiệu Nguyên nói riêng và đất nước ta nói chung. Những mảng chạm khắc trên kiến trúc... là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh tư duy thẩm mỹ của người đương thời, giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu để tìm hiểu thêm về truyền thống mỹ thuật dân tộc ở một địa phương, đồng thời làm cơ sở phục vụ trong việc tu bổ, tôn tạo di tích này. Đặc biệt, tấm bia đá lưu giữ tại chùa là nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu về sự phát triển tín ngưỡng Phật giáo ở vùng đất này cũng như quá trình xây dựng và phát triển quê hương Phù Nguyên thời Nguyễn trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chùa Vĩnh Phúc hiện đang được chính quyền, nhân dân địa phương bảo quản và phát huy tốt các giá trị. Những năm gần đây, do được sự quan tâm của bà con nhân dân, các phật tử, đặc biệt là chính quyền địa phương, từng bước di tích chùa Vĩnh Phúc đã được trùng tu, tôn tạo ngày một khang trang, bề thế, đáp ứng nguyện vọng của bà con nhân dân và các tín đồ phật tử, nhân dân đến viếng thăm và lễ phật ở di tích ngày một đông. Các hạng mục như: chùa chính, sân, khuôn viên của chùa Vĩnh Phúc mặc dù đang được chính quyền địa phương, nhân dân bảo vệ và phát huy tốt các giá trị nhưng do trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử nên một các hạng mục công trình này hiện vẫn chưa được tu bổ, tôn tạo lại theo đúng diện mạo vốn có của chùa xưa. Không gian sinh hoạt, diện tích ngôi chùa bị thu hẹp không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát huy giá trị di tích. Do đó, trong những năm tiếp theo, để di tích được phát huy tốt các giá trị cũng như góp phần trả lại diện mạo vốn có của chùa xưa; chính quyền địa phương, cùng với nhân dân, khách thập phương cần có phương án tiến hành khảo sát lập hồ sơ quy hoạch, tu bổ, tôn tạo lại, nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị di tích và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và khách thập phương./.

                                                                           Trần Ngọc Tùng

Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung

Chung tay vì trẻ thơ

 

Trồng người lợi ích trăm năm
Bác nhắc cô chú quan tâm nhi đồng
Tuổi thơ là nụ là bông
Lớn lên rường cột non sông sau này

 

Măng non uốn từ hôm nay
Chăm người như thể chăm cây trong vườn
Trẻ thơ lúc vui lúc buồn
Tâm hồn, thể chất lớn khôn từng giờ

 

Nâng cho bé từng giấc mơ
Tấm lòng nhân ái, bao giờ được quên
Mai sau các bé lớn lên
Bao dung nhân hậu xây nên hùng cường

 

Gia đình - xã hội - nhà trường
Chung tay việc tốt, làm gương nhi đồng
Thương yêu bằng cả tấm lòng
Nhớ lời Bác dặn vun trồng tuổi thơ.

                                 

Hải Lộc

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 9 NĂM 2022(28/09/2022 3:21 CH)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 8 NĂM 2022(31/08/2022 10:48 SA)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 7 NĂM 2022(01/08/2022 2:27 CH)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 6 NĂM 2022(28/06/2022 11:11 SA)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 5.2022(03/06/2022 10:19 SA)

    BẢN TIN NỘI BỘ THÁNG 4 NĂM 2022(29/04/2022 10:02 SA)